UỶ BAN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ ĐÔNG HÀ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: 134 / BC- UBND Đông Hà, ngày 10 tháng 12 năm 2008
BÁO CÁO
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2008,
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2009
Phần thứ nhất
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH
KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2008
A. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:
Thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TU của Thị uỷ, Nghị quyết HĐND thị xã khoá IX kỳ họp thứ 10 về nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2008, trong bối cảnh khó khăn chung của cả nước do tác động của cuộc khủng khoảng tài chính toàn cầu, lạm phát tăng cao, đầu tư giảm sút, thời tiết bất lợi, dịch bệnh xảy ra, đã tác động xấu đến sản xuất và đời sống nhân dân, trong khi tỉnh và các huyện/thị trong tỉnh phải điều chỉnh các chỉ tiêu phát triển, nhưng với quyết tâm cao, thị xã Đông Hà không thực hiện điều chỉnh các chỉ tiêu, mà tập trung xây dựng các giải pháp có tính khả thi cao để chỉ đạo các ngành, các địa phương, động viên nhân dân thực hiện hoàn thành cơ bản các chỉ tiêu đề ra. Tình hình kinh tế - xã hội của thị xã tiếp tục phát triển đúng định hướng. Tuy không đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế theo kế hoạch nhưng một số chỉ tiêu chủ yếu về kinh tế đã duy trì được mức tăng trưởng khá so với năm 2007. Có 11/17 chỉ tiêu vượt kế hoạch. Thu ngân sách có tiến bộ, tăng 8% so với năm 2007. Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tăng khá, tập trung các nguồn lực xây dựng cơ sở hạ tầng theo chủ đề của năm 2008. Các hoạt động văn hóa - xã hội được triển khai thực hiện có hiệu quả. Công tác bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và đấu tranh phòng chống các loại tội phạm được tăng cường. Quốc phòng - an ninh được giữ vững, ổn định. Đời sống nhân dân cơ bản ổn định.
Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu chủ yếu năm 2008 như sau:
|
CHỈ TIÊU |
KẾ HOẠCH NĂM 2008 |
ƯỚC TH NĂM 2008 |
|
1. Tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn tăng (%) |
16,0 |
14,2 |
|
2. Tổng giá trị tăng thêm (%) |
|
|
|
- Ngành thương mại-dịch vụ tăng (%) |
14-14,5 |
13,5 |
|
- Ngành Công nghiêp – XD tăng (%) |
19-20 |
16,8 |
|
- Ngành nông nghiệp tăng (%) |
7-8 |
0,6 |
|
3. Cơ cấu kinh tế |
|
|
|
- Thương mại-dịch vụ (%) |
63,5 |
69,5 |
|
- Công nghiệp- xây dựng (%) |
33,5 |
26,9 |
|
- Nông nghiệp (%) |
3,0 |
3,6 |
|
4. Sản lượng lương thực có hạt (tấn) |
9.500 |
9.945 |
|
5. Tổng thu ngân sách trên địa bàn (tỷ đồng) |
83,470 |
76,779 |
|
6. Tổng chi ngân sách trên địa bàn (tỷ đồng) |
91,890 |
127,078 |
|
7. Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn (tỷ đồng) |
400,0 |
401,2 |
|
8. Thu nhập bình quân đầu người ( triệu đồng/năm) |
14,6() |
25,8 |
|
9. Số lao động được giải quyết việc làm (L.động) |
1200-1300 |
1317 |
|
10. Giảm tỷ lệ hộ nghèo (%) |
5,0 |
6,48 |
|
11. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi (%) |
14,0 |
13,22 |
|
12. Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên (%) |
<1,3 |
1,39 |
|
13. Tỷ lệ học sinh 6 tuổi vào lớp 1 (%) |
99,5 |
99,6 |
|
14. Tỷ lệ HS hoàn thành chương trình tiểu học vào lớp 6 (%) |
98 |
99,3 |
|
15. Tỷ lệ cháu vào nhà trẻ (%) |
35-40 |
37,1 |
|
16. Tỷ lệ cháu vào mẫu giáo (%) |
85,0 |
77,2 |
|
17. Tỷ lệ dân dùng nước sạch (%) |
95,0 |
95,0 |
Kết quả cụ thể trên các lĩnh vực như sau:
I. LĨNH VỰC KINH TẾ:
1. Thương mại - dịch vụ:
Mặc dù chịu tác động do lạm phát tăng cao, nhưng nhìn chung hoạt động kinh doanh thương mại dịch vụ tiếp tục chuyển biến tích cực và đạt tốc độ tăng trưởng khá. Nhiều doanh nghiệp đã chủ động đầu tư phát triển mở rộng SXKD, năng lực kinh doanh và chất lượng hàng hoá dịch vụ từng bước được nâng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của đời sống nhân dân.
- Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ trên địa bàn ước thực hiện năm 2008 đạt 3.950/3.800 tỷ đồng, đạt 103 % kế hoạch và tăng 34,4% so với năm trước. Tổng số cơ sở kinh doanh dịch vụ, khách sạn, nhà hàng là 6.207 cơ sở, thu hút 19.643 lao động, chiếm 58,9% tổng số lao động thị xã.
- Chợ Đông Hà tiếp tục phát huy được hiệu quả, đã khai thác sử dụng hết mặt bằng xây dựng, tổ chức hoạt động kinh doanh tuân thủ pháp luật, văn minh thương mại có tiến bộ. Hoạt động kinh doanh trên các trục phố trung tâm tiếp tục phát huy hiệu quả.
- Các loại hình dịch vụ về công nghệ thông tin, bưu chính viễn thông, ngân hàng phát triển nhanh; Dịch vụ vận tải phát triển mạnh. Các dịch vụ ăn uống, giải khát tiếp tục phát triển cả về số lượng và qui mô.
Tuy nhiên, phát triển dịch vụ chưa tương xứng với tiềm năng của thị xã, phần lớn cơ sở có qui mô còn nhỏ lẻ, chưa đủ mạnh về vốn, cơ sở vật chất, kỹ thuật công nghệ, lao động, phương thức hoạt động chậm được đổi mới...
Qui hoạch quỹ đất để phát triển kinh doanh thương mại và du lịch còn hạn chế, chưa huy động được các nguồn lực từ xã hội để đầu tư xây dựng các điểm vui chơi giải trí trên địa bàn.
2. Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp:
Xuất phát điểm CN-TTCN trên địa bàn thấp nhưng sản xuất CN-TTCN vẫn duy trì nhịp độ phát triển và đạt mức tăng trưởng khá. Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn năm 2008 ước thực hiện 483,0/500 tỷ đồng đạt 96,6% kế hoạch và tăng 12,6% so với năm 2007.
Số cơ sở sản xuất trên địa bàn hiện có 949 cơ sở. Trong đó: khối cá thể có 909 cơ sở, khối doanh nghiệp có 40 cơ sở. Lao động tham gia trực tiếp sản xuất là 3.501 người. Trong đó: khối cá thể thu hút 1.936 lao động, khối doanh nghiệp thu hút 1.565 lao động.
Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đã tập trung đầu tư cải tạo nâng cấp nhà xưởng, tăng cường thiết bị máy móc, vốn lưu động, nâng cao năng lực sản xuất, cải tiến mẫu mã chất lượng sản phẩm, thu hút thêm lao động trên một số ngành hàng: cơ khí gia công, mộc mỹ nghệ, mộc cao cấp, chế biến gỗ...
Tại Khu công nghiệp Nam Đông Hà hiện có 18 dự án đăng ký đầu tư, với tổng số vốn đăng ký là 999 tỷ đồng, có 3 dự án đã đi vào hoạt động, thu hút gần 1.400 lao động. Tại Cụm công nghiệp Đông Lễ, hiện có 21 dự án đăng ký đầu tư kinh doanh, trong đó có 10 dự án đã được UBND tỉnh quyết định cho thuê đất, có 01 dự án đi vào hoạt động; tổng diện tích sử dụng đất là 51.224m2 chiếm 87% diện tích đất xây dựng tại cụm công nghiệp.
Thực hiện kế hoạch di dời các cơ sở sản xuất CN-TTCN vào cụm công nghiệp, đến nay đã có 19/22 cơ sở trong danh sách di dời năm 2008 đã và đang hoàn thành thủ tục đăng ký đầu tư vào cụm công nghiệp.
Tuy nhiên, sản xuất CN-TTCN vẫn chưa có bước đột phá, cơ sở sản xuất đang còn manh mún, nhỏ lẻ, công nghệ thiết bị còn lạc hậu, chuyển giao công nghệ, du nhập sản phẩm mới còn chậm, hiệu quả chưa rõ nét. Do ảnh hưởng của lạm phát, ngân hàng hạn chế cho vay nên các doanh nghiệp không huy động đủ vốn để đầu tư xây dựng nhà xưởng, mua sắm thiết bị …vì vậy các dự án đầu tư vào cụm công nghiệp, cũng như các cơ sở di dời từ nội thị vào cụm công nghiệp thực hiện chậm so với tiến độ đề ra.
3. Sản xuất nông nghiệp
Mặc dù thời tiết không thuận lợi, ảnh hưởng của dịch bệnh, song các chỉ tiêu sản xuất nông nghiệp cơ bản đạt kế hoạch.
Tổng diện tích gieo trồng 2.590 ha, đạt 100,2% so với kế hoạch và bằng 100,7% so với năm 2007. Trong đó diện tích lúa đạt 2092,5 ha; Năng suất lúa bình quân cả năm đạt 46,4tạ/ha. Tổng sản lượng lương thực có hạt 9.945 tấn, đạt 104,6% KH và bằng 100,6% so với năm trước.
Đã xây dựng vùng sản xuất rau an toàn 5,0 ha; giá trị 1 ha canh tác đạt trên 150 triệu đồng, có nơi đạt trên 250 triệu đồng. Tăng cường chỉ đạo công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm, đã hạn chế thấp nhất thiệt hại do dịch bệnh gây ra. Duy trì đàn gia súc (trâu, bò, lợn) ổn định: 12.567 con, khôi phục và phát triển nhanh đàn gia cầm đạt 40.200 con tăng 12% so với năm 2007. Diện tích nuôi thuỷ sản năm 2008 đạt 116,3 ha. Trong đó: nuôi tôm các loại đạt 67,0 ha, năng suất bình quân 1,5 tấn/ha, sản lượng 104,8 tấn; nuôi cá nước ngọt 49,3 ha, năng suất bình quân 1,9 tấn/ha, sản lượng 96 tấn.
Đã trồng mới được 74,5 ha rừng theo chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng của Chính phủ và 36.800 cây phân tán, 662 cây bóng mát các loại. Công tác quản lý, bảo vệ, khai thác và phát triển rừng từng bước đi vào nề nếp, công tác PCCCR đã có nhiều cố gắng, đã ứng cứu kịp thời khi xảy ra cháy rừng.
Nhìn chung việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp còn chậm, trình độ thâm canh và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế; nuôi thuỷ sản tuy hiệu quả khá nhưng tính rủi ro cao; chăn nuôi còn gặp khó khăn do tình hình dịch bệnh phức tạp và giá thức ăn cao.
4. Thu chi ngân sách.
Thu ngân sách trên địa bàn ước thực hiện 76,779 tỷ đồng, đạt 97,67 % kế hoạch tỉnh và 90% kế hoạch thị xã. Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên được 28,824 tỷ đồng.
Chi ngân sách địa phương ước thực hiện 127,078 tỷ đồng, đạt 138,3 % kế hoạch thị xã, trong đó chi cho đầu tư phát triển 18,57 tỷ đồng đạt 73,6% KH tỉnh và KH thị xã. (Phần này có báo cáo riêng)
5. Đầu tư xây dựng cơ bản, Quản lý đô thị, Tài nguyên - Môi trường:
Do giá vật liệu những tháng đầu năm tăng cao đã ảnh hưởng tiến độ xây dựng các công trình chuyển tiếp từ năm 2007 cũng như các công trình khởi công mới. Khối lượng thực hiện đến 31/12/2008 ước đạt 33,2 tỷ đồng, đạt 81% kế hoạch. Thị xã đã ưu tiên đầu tư cho các công trình trọng điểm và tập trung vốn đối ứng cho các dự án.
Tổng vốn đầu tư phát triển là 401,2 tỷ đồng đạt 100,3% KH (vốn TW và tỉnh: 97 tỷ đồng, vốn thị xã: 28,2 tỷ đồng, vốn doanh nghiệp: 154 tỷ đồng, vốn, vốn nhân dân 122 tỷ đồng). Chương trình BTH giao thông đến nay khối lượng ước 3,5 tỷ/10 tỷ đạt 35% kế hoạch.
Công tác quản lý quy hoạch và xây dựng: Chỉ đạo các phường 1, 2, 3 và 4 đẩy nhanh tiến độ điều chỉnh quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000. Đã thông qua điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng P1, P2.
Thẩm định, phê duyệt dự án quy hoạch tỷ lệ 1/2000 các phường đối với 02 dự án, quy hoạch tỷ lệ 1/500 thuộc dự án khu dân cư là 16 dự án. Quy hoạch tỷ lệ 1/500 cho 07 khu dân cư nhỏ lẻ.Thị xã đang đẩy nhanh tiến độ lập thiết kế điều chỉnh quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000 của các phường trên cơ sở quy hoạch chung, định hướng phát triển thành phố Đông Hà đến năm 2020 đã được UBND tỉnh phê duyệt
Đã thẩm định hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công và dự toán 121 công trình với tổng kinh phí đã thẩm định là 237,157 tỷ đồng; Đã tiếp nhận, xử lý 288 hồ sơ xin cấp phép xây dựng.
Đã chỉ đạo công khai quy hoạch chi tiết cho nhân dân biết và tham gia quản lý quy hoạch.
Về công tác trật tự đô thị: Tăng cường thanh kiểm tra xử lý vi phạm trong lĩnh vực xây dựng và trật tự đô thị đảm bảo các quy hoạch đã phê duyệt. Tập trung giải toả các lều quán, các hộ chiếm dụng vỉa hè buôn bán trái phép, đảm bảo trật tự và văn minh đô thị. Đã phát hiện 200 trường hợp vi phạm hành chính về hoạt động xây dựng hiện đã xử lý xong 164 trường hợp.
Thành lập BCĐ và triển khai thực hiện có hiệu quả các biện pháp lập lại hành lang ATGT theo QĐ 1856/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đảm bảo an toàn hành lang đường bộ, đường sắt
Công tác TN-MT từng bước được chấn chỉnh và có chuyển biến tích cực.
Về cấp GCNQSD đất: năm 2008 cấp được 1.539 giấy CNQSD đất, trong đó cấp đổi, chuyển nhượng, chuyển mục đích: 1.239 giấy, đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất 1.787 hồ sơ, xoá thế chấp 900 hồ sơ. Hoàn thành cấp đổi 2.600 giấy CNQSD đất “dồn điền đổi thửa” tại phường 2, Đông Giang, Đông Thanh. Thu hồi đất xây dựng 25 công trình.
Hoàn thành rà soát tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Thực hiện tốt việc kiểm kê quỹ đất của các tổ chức sử dụng đất trên địa bàn; ban hành quy trình thủ tục giải quyết trong lĩnh vực đất đai theo hướng CCHC. Tập trung chỉ đạo cập nhật chỉnh lý biến động đất đai; Tăng cường giải quyết khiếu nại, tranh chấp đất đai. Hoàn chỉnh đề án thành lập Trung tâm phát triển quỹ đất trình tỉnh phê duyệt. Rà soát thống kê tình hình sử dụng đất của các cơ sở Tôn giáo phục vụ công tác quản lý.
Công tác VS-MT: Phối hợp với các ngành chức năng tổ chức kiểm tra, giám sát công tác vệ sinh môi trường; giám sát việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường đối với những tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn. Chỉ đạo khảo sát thống kê các cơ sở gây ô nhiễm môi trường để đưa vào kế hoạch di dời vào cụm CN Đông Lễ. Xác nhận 26 cam kết và Đề án BVMT; Triển khai một bước đề án quy hoạch bảo vệ môi trường. Phối hợp với các đoàn thể tổ chức 3 hội thi tuyên truyền về BVMT.
Những hạn chế: Do hạn chế ở công tác chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng còn nhiều vướng mắc, thu từ quỹ đất thấp nên làm chậm tiến độ xây dựng cơ bản. Công tác tham mưu đền bù GPMB trong một số trường hợp chưa đạt yêu cầu.
Công tác quy hoạch đô thị tại một số phường còn chồng chéo, bất cập nhưng chưa được điều chỉnh kịp thời; chưa làm tốt việc quản lý và khai thác quỹ đất để tăng thu ngân sách. Một số cơ sở sản xuất, nhà máy gây ô nhiễm môi trường chưa được xử lý kiên quyết. Tình trạng lấn chiếm vỉa hè, lòng lề đường vẫn còn xảy ra.
Tình trạng khiếu nại, tranh chấp đất đai vẫn còn nhiều, công tác cập nhật chỉnh lý biến động đất đai còn hạn chế dẫn đến quản lý đất đai thiếu chặt chẽ.
II. LĨNH VỰC VĂN HOÁ XÃ HỘI
1. Giáo dục - Đào tạo:
Quy mô giáo dục đào tạo ngày càng phát triển, chất lượng giáo dục toàn diện ở các ngành học, bậc học có chuyển biến tích cực, cơ sở vật chất ngày càng được tăng cường. Chất lượng phổ cập Tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập Trung học cơ sở được cũng cố. Chất lượng đội ngũ giáo viên đã được nâng lên, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn cao (có 100% giáo viên trung học cơ sở, 98,6% giáo viên tiểu học và trên 90% giáo viên mầm non đạt và vượt chuẩn).
Năm học 2008-2009, kết quả huy động vào bậc Mầm non đạt 60,8% tăng 1,8% so với năm 2007. Bậc Tiểu học số học sinh huy động đầu năm 6745 em, giảm so với năm học trước 237 em, không có học sinh bỏ học. Số HS đựơc học 2 buổi/ ngày là 4572 em; Tỷ lệ chuyên cần đạt 99,5%; Bậc THCS: Tổng số học sinh đã huy động đầu năm 6831 em, giảm 476 em so với năm học trước. Đến cuối năm là 6673 em, giảm so với đầu năm 158 em (trong đó: bỏ học 103 em chiếm 1.51%).
Kết quả xếp loại năm học 2007 - 2008: Bậc Tiểu học hoàn thành chương trình Tiểu học 1564/1565 em, đạt 99,94%; Bậc Trung học cơ sở xét tốt nghiệp THCS có 1730/1746 em, đạt 99,08%.
Năm học mới với cuộc vận động “nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” với 04 nội dung tiếp tục được hưởng ứng tích cực. Chất lượng giáo dục toàn diện ở các bậc học, cấp học được phản ánh khá thực chất, chất lượng đạo đức được nâng cao, tham gia các kỳ thi học sinh giỏi tỉnh và quốc gia đạt kết quả cao.
Chương trình KCH trường, lớp học đang được triển khai thực hiện tích cực. XHH lĩnh vực giáo dục đang được đấy mạnh. Đang tập trung chỉ đạo xây dựng thêm 10 trường đạt chuẩn quốc gia vào tháng 4 năm 2009. Đến nay thị xã có 15 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 37,5 %. Trong đó Mầm non có 2/16 trường, đạt 13,3%; Tiểu học có 11/15 trường, đạt 73,3%; THCS có 2/9 trường, đạt 22,2%, tăng 1 trường so với năm học trước
Tuy vậy, nhìn chung Giáo dục- đào tạo Đông Hà chưa phát triển tương xứng với Giáo dục của đô thị trung tâm của tỉnh, tỷ lệ đạt chuẩn phổ cập chưa vững chắc, cơ sở vật chất trường học còn nhiều khó khăn, nhất là bậc học Mầm non. Việc huy động các khoản thu ngoài quy định tại các trường vẫn còn xảy ra.
2. Văn hoá Thông tin, tuyên truyền, TDTT:
Tổ chức tốt các hoạt động thông tin tuyên truyền cổ động, văn hoá văn nghệ, các giải thi đấu TDTT chào mừng tết Nguyên đán, kỷ niệm các ngày lễ lớn của quê hương đất nước. Công tác tuyên truyền đã bám sát nhiệm vụ của thị xã và các sự kiện trọng đại của quê hương, đất nước.
Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá tiếp tục thu nhiều kết quả. Đến nay đã có 66/83 khu phố, 38/50 cơ quan, trường học được công nhận đơn vị văn hoá, 14.070/17.689 hộ đạt danh hiệu gia đình văn hoá, đạt 79,5%. Đã có 7/9 phường xây dựng được khu thiết chế văn hoá Trung tâm, 62/83 khu phố có nhà văn hoá, trong đó 29 khu phố có nhà văn hoá đạt chuẩn theo đề án thị xã. Năm 2008 xây dựng 10 nhà văn hoá khu phố.
Tập trung chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động thực hiện nếp sống văn hóa - văn minh đô thị cho người dân. Tổ chức các đợt thanh kiểm tra chấn chỉnh các hoạt động văn hoá, kinh doanh dịch vụ văn hoá, xuất bản phẩm tại các nhà sách trên địa bàn, đã tiến hành lập biên bản 38 trường hợp vi phạm và xử phạt vi phạm hành chính 36,5 triệu đồng.
Phong trào luyện tập TDTT phát triển mạnh mẽ cả về lượng và chất, nhiều CLB thể thao được hình thành và phát huy tác dụng tốt, thể thao thành tích cao đã được chú trọng đầu tư. Tuy nhiên chất lượng phong trào xây dựng đời sống văn hoá chưa cao, công tác thông tin tuyên truyền còn mang tính phong trào, công tác tuyên truyền xây dựng nếp sống văn hoá đô thị chưa đi vào chiều sâu.
3. Y tế, dân số-KHHGĐ:
Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, phòng chống dịch bệnh, an toàn vệ sinh thực phẩm được quan tâm. Các chương trình quốc gia về y tế được quan tâm chỉ đạo và triển khai đạt kết quả tốt. Tính đến nay, có 8/9 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, đạt 88,8%. Công tác khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế chuyển biến tích cực; số trẻ em dưới 6 tuổi được chăm sóc, khám chữa bệnh khá tốt tại các cơ sở y tế phường.
Tăng cường kiểm tra, giám sát vệ sinh ATTP tại các cơ sở kinh doanh ăn uống, các chợ trên địa bàn; Duy trì thường xuyên công tác tuyên truyền giáo dục sức khoẻ cộng đồng, vệ sinh môi trường, vệ sinh ATTP, ...
Tiếp tục tuyên truyền về chính sách Dân số - KHHGĐ, chăm sóc SKSS.... xây dựng và duy trì các mô hình, nhất là mô hình KP không có người sinh con thứ 3 trở lên. Đã phát động xây dựng 47/83 mô hình KP không sinh con thứ 3 trở lên.
Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên dự ước là 1,39%/KH 1,3%, giảm 0,02% so với năm trước. Tổng số trẻ em sinh ra trong năm 2008 ước khoảng 1.456 cháu, trong đó sinh con thứ 3 trở lên có 189 cháu, chiếm tỷ lệ 12,9%/KH 12%, giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ suất sinh 17,1%0, giảm 0,4%0 so với năm trước. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng là 13,22%/KH 14%.
Tuy nhiên, hoạt động các CLB và mô hình không sinh con thứ 3 ở một số địa bàn còn mang tính hình thức, chưa phát huy hiệu quả.
4. Các hoạt động chính sách, xã hội, chăm sóc giáo dục trẻ em, công tác từ thiện, nhân đạo:
Tập trung nhiều biện pháp tạo việc làm cho người lao động thông qua các kênh giới thiệu việc làm, cho vay vốn từ quỹ quốc gia giải quyết việc làm 120, xuất khẩu lao động...đã giải quyết việc làm cho 1317 lao động, đạt 109,7% so với KH.
Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách xã hội, chương trình giảm nghèo, xây nhà đại đoàn kết, xoá nhà tạm, thực hiện các chính sách đối với gia đình và người có công với cách mạng, phong trào đền ơn đáp nghĩa được thường xuyên quan tâm, đạt kết quả tốt. Tổ chức thăm hỏi và tặng quà cho các đối tượng chính sách, đơn vị thực hiện chính sách trên địa bàn nhân các ngày lễ tết với 832 suất quà, tổng giá trị 113.400.000 đồng. Xây mới 6 nhà tình nghĩa, trị giá 150 triệu đồng, sữa chữa 60 nhà ở cho đối tượng chính sách, trị giá 360 triệu đồng.
Chỉ đạo thực hiện các biện pháp trợ giúp cho người nghèo. Chương trình giảm nghèo tiếp tục được triển khai tại các phường và đã giúp cho nhiều hộ thoát nghèo. Toàn thị xã hiện còn 1.175 hộ nghèo, chiếm 6,48%.
Duy trì thường xuyên công tác kiểm tra phòng chống tệ nạn xã hội.
Tăng cường thực hiện các chương trình ngăn ngừa và trợ giúp trẻ em lang thang, lao động sớm trên địa bàn; Phát động 8/9 phường xây dựng mô hình “Phường phù hợp với trẻ em”, đang tiếp tục chỉ đạo phường 5 triển khai thực hiện.
Cấp thẻ khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi; Tổ chức khám mắt cho 790 trẻ em ở 9 phường.
Tuy nhiên, chất lượng lao động chưa cao, xuất khẩu lao động kết quả còn hạn chế, nguồn lực để giải quyết chương trình giảm nghèo còn khó khăn, chưa có biện pháp hữu hiệu giải quyết vấn đề giải quyết người lang thang, tình trạng trẻ em lao động sớm trên địa bàn vẫn còn.
Thu BHXH, BHYT ước đạt 29 tỷ đồng, đạt 99,5% kế hoạch được giao, đã khai thác mới thêm 30 đơn vị, với 260 lao động; Năm 2008, thu BHYT tự nguyện đối với 16.000 người với số tiền 2,585 tỷ đồng, đạt 111,5% kế hoạch; Quản lý tốt việc cấp và quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT, đảm bảo quyền lợi của người tham gia Bảo hiểm.
Làm tốt công tác nhân đạo từ thiện, phát động Tết vì người nghèo và nạn nhân chất độc màu da cam đã quyên góp được 947 suất quà và hiện vật trị giá hơn 412,5 triệu đồng, Nồi cháo tình thương đã cung cấp gần 2000 suất cháo với tổng giá trị hơn 57,2 triệu đồng... Vận động quyên góp ủng hộ các nạn nhân bị thiên tai ở Myanma, Trung Quốc và Cu Ba được 200 triệu đồng; Vận động hiến 319 cơ số máu để cứu bệnh nhân.
5. Công tác Tôn giáo:
Công tác quản lý nhà nước về Tôn giáo được tăng cường, hầu hết các Tôn giáo đều hoạt động theo đúng quy định của Nhà nước. Các hoạt động lễ hội kỷ niệm các ngày lễ của các tôn giáo diễn ra an toàn, đa số các tín đồ sống tốt đời đẹp đạo, chấp hành tốt chủ trương pháp luật của Đảng và Nhà nước. Lễ Phật Đản Liên Hợp Quốc được tổ chức trọng thể, an toàn. Tuy nhiên vẫn còn một số đối tượng lợi dụng chính sách tự do Tôn giáo để vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý đất đai, tự ý mở rộng, xây mới cơ sở phục vụ Tôn giáo không tuân thủ các quy định của Nhà nước đã được xử lý nghiêm minh, có tác dụng giáo dục cao, được nhân dân đồng tình, ủng hộ.
6. Khoa học - Công nghệ.
Triển khai đề tài khoa học Mở rộng vùng chuyên canh tập trung sản xuất rau an toàn các loại và ứng dụng phân bón hữu cơ vi sinh, thuốc BVTV sinh học cho vùng sản xuất rau an toàn thị xã Đông Hà. Xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT giai đoạn 2008-2015;
Tổ chức phổ biến các văn bản pháp luật, các chính sách nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ. Tổ chức các lớp tập huấn về đo lường chất lượng hàng hoá với nhiều đối tượng tham gia; Thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về đo lường, chất lượng và ghi nhãn hàng hoá.
III. LĨNH VỰC NỘI CHÍNH, TỔ CHỨC NHÀ NƯỚC VÀ ĐỐI NGOẠI:
1. Tổ chức nhà nước, cải cách hành chính, thi đua khen thưởng.
Thực hiện tổ chức lại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thị xã theo Nghị định số 14/2008/NĐ-CP của Chính phủ. Chất lượng cán bộ lãnh đạo các cơ quan chuyên môn cơ bản đáp ứng được yêu cầu. Chỉ đạo xây dựng, ban hành quy chế hoạt động của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thị xã sau khi thành lập và thay đổi chức năng nhiệm vụ; kiện toàn các BCĐ, Hội đồng phù hợp yêu cầu trong tình hình mới. Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với CBCC, VC.
Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, trong đó tập trung chỉ đạo phòng chức năng rà soát các thủ tục hành chính thực hiện cơ chế một cửa tại thị xã và phường. Tiếp tục tạo điều kiện đào tạo, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ công chức, đi đôi với việc thực hiện các biện pháp chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương hành chính. Làm tốt công tác xét tuyển viên chức sự nghiệp, đề xuất để chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức, viên chức theo Nghị định 158/2008/NĐ-CP.
Phát động phong trào thi đua yêu nước và tổ chức các hoạt động thi đua nhân kỷ niệm 60 năm ngày Bác Hồ kêu gọi thi đua ái quốc, tổ chức đăng ký giao ước thi đua năm 2008 cho các đơn vị. Năm 2008, thị xã đã quyết định khen thưởng cho 47 tập thể, 101 cá nhân, 32 danh hiệu chiến sỹ thi đua cơ sở, 11 danh hiệu tập thể lao động tiên tiến và 200 danh hiệu lao động tiên tiến đã có thành tích xuất sắc trong các phong trào thi đua. Chỉ đạo các đơn vị xét thi đua khen thưởng năm 2008.
2. Công tác Thanh tra và tình hình khiếu nại, tố cáo
Tiến hành thanh tra công tác thu chi NS và đầu tư XDCB tại phường Đông Lương, qua thanh tra đã thu hồi 94.386.000đ chi sai chế độ chính sách nộp vào NSNN. Đã chỉ đạo xữ lý các đối tượng vi phạm, kiểm điểm trách nhiệm đối với một số cá nhân. Tiếp tục chỉ đạo thanh tra công tác thu chi NS và đầu tư XDCB tại Phường 3.
Công tác tiếp dân được duy trì thường xuyên, từng bước cải tiến nội dung, hình thức tiếp công dân theo định kỳ. Trong năm tiếp 31 lượt, 39 người, qua tiếp dân, các vấn đề bức xúc, phản ánh của nhân dân cơ bản được giải quyết, tạo được lòng tin và tăng cường nhận thức của người dân về pháp luật.
Giải quyết khiếu nại, tố cáo: Đến ngày 3/12/2008 đã tiếp nhận 196 đơn do công dân gửi đến UBND thị xã và nhiều đơn thư do các cấp chuyển đến, chủ yếu tập trung lĩnh vực tranh chấp đất đai, khiếu nại về đền bù, giải tỏa, đề nghị thoái trả tiền sử dụng đất, trong đó có 32 đơn không thuộc thẩm quyền. Đã giải quyết 73% số đơn, số còn lại đang tập trung giải quyết. (Phần này có báo cáo riêng)
3. Công tác tư pháp:
Tăng cường hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân dân; Tổ chức phổ biến Luật CNTT, Luật Giao dịch điện tử, Luật phòng chống BLGĐ, Luật thuế thu nhập cá nhân, Luật Khiếu nại tố cáo, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn.
Hành chính tư pháp, hổ trợ tư pháp có chuyển biến tích cực. Tiếp tục nâng cao chất lượng văn bản ban hành; kiểm tra, rà soát 2.909 văn bản các loại cấp phường;
Công tác thi hành án dân sự được quan tâm chỉ đạo, tổng số việc thụ lý thi hành là 882 việc, tỷ lệ thi hành xong hoàn toàn đạt 83%, tỷ lệ thi hành về tiền đạt 82%. So với năm 2007, việc thi hành xong cao hơn 6%, giải quyết xong cao hơn 10%, đặc biệt số án tồn đọng sang năm 2009 giảm đáng kể, chỉ còn 297 việc (tồn đọng năm 2007 sang 2008 là 421 việc).
4 Thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí:
Công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện thực hành tiết kiệm chống lãng phí tiếp tục có những chuyển biến tích cực, việc sử dụng NSNN phục vụ đi công tác, tổ chức hội nghị, tiếp khách, quản lý hành chính, mua sắm tài sản, sử dụng xe ô tô... ... được thực hiện theo đúng định mức, tiêu chuẩn, chế độ Nhà nước ban hành với tinh thần tiết kiệm; Thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, đã phát hiện chấn chỉnh và đề nghị xử lý nghiêm một số trường hợp sai phạm về quản lý tài chính tại phường Đông Lương.
5. Công tác đối ngoại:
Xây dựng và ban hành chương trình xúc tiến, vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài (NGO), giai đoạn 2008-2010, có tính đến 2015; Tiếp tục kêu gọi hỗ trợ hợp tác trong lĩnh vực y tế (tổ chức y tế Hà Lan), rà phá bom mìn xử lý vật liệu nổ còn lại sau chiến tranh; Tiếp nhận dự án Hỗ trợ nhân đạo cho các nạn nhân bom mìn của Tổ chức Clear Path International.
Làm việc với các Bộ ngành Trung ương, Đoàn tư vấn của ADB để tranh thủ sự giúp đỡ, tiếp cận với Dự án hổ trợ kỷ thuật phát triển kinh tế - xã hội toàn diện thị xã Đông Hà và đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Làm việc với các đoàn công tác của ADB để thực hiện các giai đoạn tiếp theo của dự án CTMTĐTMT- Tiểu dự án Đông Hà đảm bảo hoàn thành đúng tiến độ cam kết.
Tổ chức tiếp đón và làm việc với đoàn đại biểu huyện Cay sỏn Phôm Vi Hản theo đúng nghi thức ngoại giao trên tinh thần đoàn kết, hữu nghị. Hai bên đã thống nhất luân phiên cử đoàn cán bộ đến thăm để trao đổi học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, thực hiện tốt các nội dung hợp tác giữa hai tỉnh Quảng Trị và Savannakhet mà lãnh đạo hai tỉnh đã ký kết.
6. Phối hợp với Mặt trận và các Hội đoàn thể
Tiếp tục tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể tham gia vào quá trình quản lý hành chính nhà nước và giám sát các hoạt động của Uỷ ban nhân dân các cấp. Mặt trận và các đoàn thể được bàn bạc và tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của thị xã. Đã tổ chức Hội nghị để trao đổi thông tin và thống nhất các nội dung phối hợp giữa UBND và UBMTTQ, các đoàn thể thị xã, đồng thời xử lý các kiến nghị, đề xuất, tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể hoạt động hiệu quả hơn. Xây dựng và thực hiện Quy chế phối hợp hoạt động giữa Thường trực HĐND, UBND với UBMTTQ và các đoàn thể thị xã, làm cho mối quan hệ giữa Thường trực HĐND, UBND với Mặt trận và các đoàn thể ngày càng trở nên gắn bó, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, giữ vững ổn định chính trị; phát huy vai trò của mặt trận và các Hội, đoàn thể trong việc động viên nhân dân tham gia các phong trào thi đua, các cuộc vận động, phát huy mọi nguồn lực phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
7. Quốc phòng- An ninh:
Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững và ổn định. Phong trào quần chúng tham gia bảo vệ an ninh tổ quốc, đấu tranh phòng chống tội phạm tiếp tục được đẩy mạnh.
Hoàn thành tốt nhiệm vụ quân sự địa phương năm 2008, nhiệm vụ QP được triển khai đúng kế hoạch, tổ chức diễn tập KVPT và phối hợp phòng chống lụt bão, duy trì nghiêm nề nếp, chế độ thường trực sẵn sàng chiến đấu, công tác huấn luyện và xây dựng lực lượng được tiến hành đồng bộ và đạt kết quả cao. Tổ chức lễ ra quân huấn luyện theo đúng kế hoạch. Hoàn thành tốt nhiệm vụ tuyển quân năm 2008, đạt chỉ tiêu tỉnh giao, đảm bảo chất lượng.
Tiếp tục phát huy hiệu quả mô hình khu phố không có tội phạm và TNXH, đã phát động xây dựng đựơc 32 mô hình phòng chống tội phạm và TNXH. Tăng cường công tác đấu tranh phòng chống tội phạm hình sự; triển khai các đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm; khám phá, xử lý các vụ trọng án. Đã xảy ra 230 vụ phạm pháp hình sự, tăng 45 vụ so với năm 2007. Điều tra làm rõ 162/230 vụ, đạt tỷ lệ 70,4%, thu hồi tài sản trị giá trên 500 triệu đồng và 12.400 bath (Thái Lan). Trong đó có 13 vụ tội phạm trên lĩnh vực ma tuý, đã thu giữ hơn 61,4g hê rô in và hơn 55 g cần sa, tăng 04 vụ với 7 bị can so với năm 2007. Trên địa bàn hiện có 215 đối tượng nghiện, tăng 17 đối tượng so với năm 2007.
Phát hiện 67 vụ buôn lậu, buôn bán hàng cấm, gian lận thương mại, tổng trị giá hàng tịch thu hơn 2,42 tỷ đồng ( tăng 14 vụ so với năm 2007). Đã khởi tố 2 vụ về tội vận chuyển hàng cấm qua biên giới.
Xảy ra 21 vụ TNGT làm chết 16 người, bị thương 17 người, giảm 02 vụ và 10 người chết so với năm 2007; Va chạm giao thông: 51 vụ, bị thương nhẹ 63 người, tăng 10 vụ và 9 người bị thương so với năm trước.
Năm 2008, tình hình phạm pháp hình sự có chiều hướng gia tăng so với năm trước, chủ yếu là các loại trộm cắp tài sản, ma tuý. Hoạt động của bọn tội phạm buôn lậu, gian lận thương mại diễn ra tương đối phức tạp. Tệ nạn mại dâm, đánh bạc, số đề, cá độ bóng đá vẫn lén lút hoạt động với thủ đoạn tinh vi, chuyên nghiệp, gây khó khăn cho công tác phòng ngừa và đấu tranh.
B. ĐÁNH GIÁ CHUNG
Năm 2008, kinh tế - xã hội thị xã tuy gặp khó khăn trong bối cảnh chung của cả nước, song vẫn giữ được tốc độ phát triển. Thương mại - dịch vụ phát triển khá; Sản xuất CN-TTCN có bước tăng trưởng. Quản lý đô thị được tăng cường, dần đi vào nề nếp, chỉ đạo thu ngân sách quyết liệt, huy động vốn đầu tư trên địa bàn đạt hơn 401 tỷ đồng, vượt kế hoạch đề ra.
Quan tâm giải quyết kịp thời các vấn đề bức xúc và những khó khăn của nhân dân: chỉ đạo khắc phục thiệt hại do thời tiết rét đậm, rét hại kéo dài, phòng chống dịch bệnh; Trợ cấp cho các đối tượng chính sách, xã hội gặp khó khăn; cấp thẻ KCB cho người nghèo; công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được quan tâm. Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đã có chuyển biến tích cực.
Đã tập trung làm tốt công tác sắp xếp bộ máy, tổ chức và cán bộ, gắn với đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn mới. Tập trung chỉ đạo bảo đảm mọi công việc thông suốt, không gián đoạn, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương, nhất là mối quan hệ phối hợp với các Sở, ban, ngành của tỉnh để bảo đảm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, chăm lo đời sống nhân dân. Xã hội hoá trên một số lĩnh vực văn hoá - xã hội đã có chuyển biến tích cực. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn được giữ vững và ổn định.
Đạt được những kết quả trên do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó những nguyên nhân chủ quan chủ yếu là:
Trước hết là công tác tham mưu đề xuất của UBND để đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của Ban Thường vụ Thị uỷ, sự đoàn kết, nhất trí, đồng lòng, đồng sức của cán bộ, Đảng viên và nhân dân thị xã phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kinh tế-xã hội đã đề ra. Phát huy nội lực của các tầng lớp nhân dân; tranh thủ sự giúp đỡ của tỉnh và các Bộ ngành TW, các tổ chức quốc tế.
Sự đổi mới, sáng tạo và quyết liệt, công khai minh bạch, tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc từ nhiều năm để lại, xác định trọng tâm trọng điểm trong chỉ đạo, điều hành của UBND thị xã, sự nỗ lực phấn đấu của các ngành, các địa phương; hiệu quả giám sát của HĐND, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể thị xã.
Tuy nhiên, tình hình kinh tế, xã hội còn những tồn tại, hạn chế, đó là: Một số lĩnh vực kinh tế quan trọng phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của thị xã, chuyển dịch kinh tế còn chậm và chưa vững chắc; Năng lực cạnh tranh, tiềm lực vốn của đa số doanh nghiệp trên địa bàn còn thấp. Thu ngân sách từ quỹ đất đã có cố gắng nhưng chưa đáp ứng yêu cầu đầu tư phát triển và xây dựng CSHT, một số phường chưa tập trung chỉ đạo quyết liệt để thu ngân sách; Nhiều dự án đầu tư triển khai chậm do khó khăn về vốn, giải phóng mặt bằng. Tiến độ triển khai các dự án tại các khu, cụm công nghiệp chậm. Quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực vẫn còn bất cập, chồng chéo như quy hoạch đô thị, quản lý đất đai, vệ sinh môi trường. Giải quyết thoái trả tiền sử dụng đất cho nhân dân còn chậm. Việc xây dựng nếp sống văn minh đô thị kết quả còn hạn chế. Hoạt động của các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, nhất là ma tuý vẫn diễn biến phức tạp. Mặc dù thu nhập bình quân đầu người tăng nhưng do lạm phát nên đời sống một bộ phận nhân dân và người làm công ăn lương còn gặp khó khăn.
Những hạn chế trên có nguyên nhân khách quan từ những khó khăn chung, song về nguyên nhân chủ quan trực tiếp là do Chính quyền cơ sở ở một số nơi chưa làm hết trách nhiệm; năng lực lãnh đạo, điều hành và chuyên môn nghiệp vụ của một bộ phận cán bộ công chức còn chưa đáp ứng được yêu cầu. Vai trò của chính quyền cơ sở và nhân dân trong việc quản lý quy hoạch, quản lý đô thị, vệ sinh môi trường còn nhiều hạn chế. Cải cách hành chính mới ở khâu thủ tục, chưa mạnh dạn cải cách bộ máy và thay thế cán bộ hạn chế về năng lực; Sự phối kết hợp giữa các phòng, ban, đơn vị đôi lúc thiếu nhịp nhàng. Một bộ phận nhân dân còn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại, nặng về phê phán, chê trách nhưng thiếu nhiệt tâm đóng góp công sức trong thực hiện các đề án XHH để xây dựng thị xã;
Phần thứ hai
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2009
Năm 2009 là năm có ý nghĩa quan trọng thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ X và Nghị quyết HĐND thị xã về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010. Là năm Đông Hà trở thành thành phố thuộc tỉnh với nhiều cơ hội thuận lợi hơn, tuy nhiên vẫn còn không ít khó khăn vì vậy, đòi hỏi sự nỗ lực cao của các ngành, các cấp, nhằm tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức để hoàn thành kế hoạch.
* Những thuận lợi cơ bản:
- Tình hình chính trị ổn định, quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội được bảo đảm, kinh tế - xã hội trong nước tiếp tục ổn định và phát triển, lạm phát cơ bản được kiềm chế. Kinh tế - xã hội của thị xã có nhiều chuyển biến tích cực và tiếp tục phát triển ổn định, kết cấu hạ tầng được đầu tư bước đầu phát huy hiệu quả, công tác cải cách hành chính có nhiều chuyển biến tích cực, bộ máy nhà nước được củng cố và hoạt động ngày càng có hiệu quả.
- Đầu tư cho phát triển của các doanh nghiệp ngày càng nhiều; tiềm năng, lợi thế trên tuyến hành lang kinh tế Đông-Tây là điều kiện quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của thị xã.
- Đông Hà tiếp tục nhận được sự quan tâm, giúp đỡ có hiệu quả của Trung ương và Tỉnh.
* Những khó khăn chủ yếu:
Dự báo năm 2009 sẽ phải đối mặt với những khó khăn thách thức:
- Suy thoái kinh tế toàn cầu ảnh hưởng đến các nước trong đó có Việt Nam. Lạm phát đã được kiềm chế song vẫn ở mức cao đã ảnh hưởng đến ổn định và tăng trưởng kinh tế.
- Kết cấu hạ tầng KT-XH thị xã tuy đã được đầu tư song vẫn còn nhiều yếu kém, thiếu đồng bộ; chất lượng và hiệu quả trong các ngành sản xuất kinh doanh đạt thấp. Sức thu hút đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp vẫn còn khó khăn.
- Chất lượng nguồn nhân lực nhìn chung còn thấp. Công tác quy hoạch, quản lý đất đai, quản lý và phát triển đô thị còn nhiều bất cập. Ý thức văn minh đô thị của một bộ phận nhân dân còn hạn chế.
- Tình hình thiên tai, dịch bệnh có thể diễn biến phức tạp, ảnh hưởng bất lợi đến sản xuất và đời sống.
I. Mục tiêu, các chỉ tiêu kinh tế-xã hội :
1. Mục tiêu tổng quát: Tập trung huy động các nguồn lực để tiếp tục xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị đưa Đông Hà trở thành thành phố thuộc tỉnh. Tập trung tháo gỡ khó khăn, khai thác các lợi thế của đô thị tỉnh lỵ để tạo chuyển biến mạnh mẽ trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ; Tạo mọi điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh thực hiện các dự án đầu tư. Nâng cao chất lượng đô thị. Tăng cường công tác quy hoạch, quản lý đô thị và quản lý đất đai; giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững; đảm bảo về ANTT; Giải quyết có hiệu quả một số vấn đề xã hội bức xúc.
2. Một số chỉ tiêu kinh tế- xã hội chủ yếu: Căn cứ hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh, chỉ tiêu kế hoạch của tỉnh và định hướng phát triển kinh tế- xã hội của địa phương, UBND thị xã xác định các chỉ tiêu phát triển chủ yếu sau đây:
Các chỉ tiêu kinh tế:
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế 15-16% (so với năm 2008), trong đó:
- Giá trị tăng thêm các ngành dịch vụ tăng: 13-14%
- Giá trị tăng thêm ngành Công nghiệp - Xây dựng tăng: 19-20% (CN -TTCN tăng 15-16%, xây dựng tăng 20-22%).
- Giá trị tăng thêm nhóm nông - lâm nghiệp tăng: 4-5%
+ Tổng vốn đầu tư xã hội trên địa bàn: trên 550-600 tỷ đồng ().
+ Thu nhập bình quân đầu người 31 triệu đồng/ năm
+ Tổng thu ngân sách trên địa bàn: 96.880 triệu đồng.
+ Tổng chi ngân sách địa phương: 98.649 triệu đồng.
+ Tổng sản lượng lương thực có hạt trên 9.500 tấn.
Các chỉ tiêu Văn hoá xã hội:
+ Giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 1,6% trở lên ()
+ Tạo việc làm mới cho trên 1200 lao động
+ Giảm tỷ suất sinh 0,5- 0,6%o
+ Hạ tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 13%
+ Duy trì vững chắc kết quả phổ cập đúng độ tuổi và THCS cho 9/9 phường.
+ Tỷ lệ vào nhà trẻ đạt trên35%, mẫu giáo trên 85%
+ Tỷ lệ hộ dân được cung cấp nước sạch: trên 97 %.
II. Các nhiệm vụ giải pháp chủ yếu:
Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết của BCH Đảng bộ thị xã, Nghị quyết của HĐND về nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội năm 2009. Theo đó, tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp để phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế 15-16%. Phát triển công nghiệp và các ngành dịch vụ và duy trì tăng trưởng ổn định của ngành nông nghiệp; Tăng thu NS trên địa bàn, tăng chi cho đầu tư phát triển. Tiếp tục tranh thủ các nguồn vốn ODA, NGO; Nâng cao chất lượng các lĩnh vực văn hoá - xã hội. Thực hiện tốt công tác giải quyết việc làm, giảm nghèo, y tế, giáo dục. Đẩy mạnh xã hội hoá các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao; Tích cực xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường ở các cơ sở sản xuất công nghiệp, TTCN, các khu dân cư; Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, mở rộng và nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”. Thực hiện công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan QLNN; Tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, nhằm nâng cao hiệu quả chỉ đạo, điều hành của bộ máy quản lý Nhà nước các cấp; Chủ động phòng chống dịch bệnh, thiên tai có hiệu quả; Giải quyết kịp thời các vấn đề xã hội bức xúc, nhất là đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân; Tiếp tục củng cố nền quốc phòng toàn dân; giữ vững trật tự an toàn xã hộ, thực hiện các biện pháp kiềm chế các TNXH và tai nạn giao thông.
1. Về phát triển kinh tế
1.1. Thương mại - dịch vụ: Tiếp tục phát huy lợi thế của thị xã để đẩy mạnh phát triển các loại hình dịch vụ theo hướng đa dạng hoá các loại hình sản phẩm; nâng cao năng lực, hiệu quả kinh doanh và chất lượng phục vụ; Phấn đấu tổng mức bán lẽ và doanh thu dịch vụ đạt 5.135 tỷ đồng, tăng 30% so với năm 2008.
Hoàn thành và tổ chức thực hiện Đề án qui hoạch phát triển hệ thống các chợ, siêu thị trên địa bàn đến năm 2015, đẩy mạnh xã hội hoá xây dựng phát triển các chợ, siêu thị trên địa bàn. Kêu gọi nhà đầu tư xây dựng chợ phường 5 tại địa điểm mới, qui hoạch, sắp xếp lại các chợ tạm hiện có; Quy hoạch bố trí quỹ đất tạo mặt bằng đáp ứng nhu cầu xây dựng trụ sở, kho chứa hàng hoá của các doanh nghiệp thương mại trên địa bàn.
Thực hiện các chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp như tập huấn nghiệp vụ, thông tin thị trường, xây dựng thương hiệu, hỗ trợ phát triển và thành lập doanh nghiệp, hội nhập và phát triển kinh doanh...Triển khai các hoạt động tăng cường công tác quản lý nhà nước về thương mại, tổ chức các đoàn kiểm tra, kiểm định để hạn chế các hiện tượng tiêu cực: gian lận thương mại, buôn bán hàng lậu hàng giả...
1.2. Ngành Công nghiệp- TTCN: Tập trung chỉ đạo, động viên cơ sở khắc phục khó khăn để đẩy mạnh sản xuất, phấn đấu giá trị sản xuất CN-TTCN năm 2009 đạt 560 tỷ đồng, tăng so năm 2008 là 16,5%
Phối hợp với tỉnh đẩy mạnh kêu gọi đầu tư thu hút các dự án đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn. Đầu tư xây dựng đường vào cụm CN tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đồng thời phục vụ di dời các cơ sở sản xuất vào các cụm điểm công nghiệp tập trung.
Tạo mọi điều kiện thuận lợi để khuyến khích phát triển CN-TTCN, tập trung hoàn thành qui hoạch chi tiết các cụm điểm công nghiệp trên địa bàn (cụm CN QL9D, cụm điểm TTCN Phường 4…), lập kế hoạch đầu tư xây dựng hạ tầng thiết yếu, nhằm đảm bảo điều kiện về mặt bằng để thu hút đầu tư phát triển công nghiệp.
Đẩy mạnh thực hiện các nội dung chương trình khuyến công, tập trung vào các nội dung trọng tâm như: hỗ trợ nâng cao năng lực phát triển doanh nghiệp, du nhập và chuyển giao công nghệ mới, du nhập nghề mới vào địa bàn.
Tổ chức các hội nghị chuyên đề, các đợt tham quan học tập cho các cơ sở sản xuất, tập trung tháo gở khó khăn vướng mắc, khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới trang thiết bị và công nghệ nâng cao năng suất chất lượng, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
1.3. Nông lâm ngư nghiệp: Phát triển Nông nghiệp theo hướng dịch vụ, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Ổn định vùng chuyên canh sản xuất lúa từ 1000 - 1100 ha; đưa các giống lúa năng suất cao, chất lượng tốt có giá trị kinh tế vào sản xuất. Phấn đấu tổng sản lượng lương thực có hạt đạt trên 9.500 tấn.
Mở rộng diện tích trồng rau màu, rau an toàn theo Đề án, nâng cao năng suất, chất lượng và từng bước xây dựng thương hiệu rau an toàn. Khuyến khích phát triển chăn nuôi an toàn sinh học theo hướng trang trại. Tăng cường kiểm soát giết mổ, phòng chống dịch bệnh vật nuôi. Tiếp tục duy trì diện tích nuôi tôm các loại có hiệu quả, mở rộng diện tích nuôi thuỷ sản nước ngọt, phấn đấu đạt diện tích 150 ha.
Thực hiện trồng rừng theo dự án trồng mới 5 triệu ha rừng của Chính phủ; Chủ động và làm tốt công tác quản lý, bảo vệ và PCCCR.
2. Thu chi ngân sách: Thực hiện đồng bộ các giải pháp để nuôi dưỡng nguồn thu. Tăng cường kiểm tra, quản lý thuế đối với các hoạt động kinh doanh trên địa bàn và các đối tượng nộp thuế. Tập trung các biện pháp chống thất thu, hạn chế tối đa các khoản chi ngoài kế hoạch, bảo đảm chi ngân sách đúng dự toán. Tiếp tục đấu giá các dự án tạo quỹ đất đã đầu tư, xây dựng một số dự án mới để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị. Tranh thủ các nguồn vốn Trung ương, vốn của Tỉnh, vốn ODA và các thành phần kinh tế tập trung cho đầu tư phát triển.
Tăng chi đầu tư phát triển, trọng tâm là trả nợ đầu tư XDCB, thanh toán khối lượng XDCB hoàn thành, đối ứng các dự án ODA. Ưu tiên đầu tư cho hạ tầng, trước hết là hạ tầng giao thông, vỉa hè, cấp thoát nước và điện chiếu sáng.
Tập trung chỉ đạo hoàn thành thoái trả tiền sử dụng đất cho nhân dân.
3. Xây dựng cơ sở hạ tầng, quản lý đô thị, tài nguyên và môi trường
3.1 Xây dựng cơ bản: Ưu tiên đầu tư các công trình trọng điểm, công trình CSHT đô thị. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình chuyển tiếp từ năm 2008, các hạng mục thuộc dự án CTMTĐTMT- Tiểu dự án Đông Hà; chỉ đạo các chủ đầu tư sớm khởi công các công trình đã bố trí kế hoạch vốn; Tập trung tháo gỡ vướng mắc trong giải phóng mặt bằng; Thanh quyết toán đối với các công trình đã hoàn thành khối lượng. Triển khai các bước tiếp theo của dự án phát triển kinh tế- xã hội toàn diện thị xã Đông Hà do ADB tài trợ. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra lĩnh vực XDCB.
Khuyến khích các nhà đầu tư tham gia xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Đầu tư mới một số công trình bức thiết đã có nguồn vốn và dành vốn đối ứng cho các dự án để thu hút đầu tư. Tăng cường quản lý đầu tư, nâng cao chất lượng thẩm định dự án, quản lý đấu thầu... Khắc phục bất cập để tiếp tục thực hiện đề án xã hội hoá vĩa hè, điện chiếu sáng khu dân cư, cây xanh đô thị và một số lĩnh vực giao thông, thu gom rác và vệ sinh môi trường.
3.2. Công tác quy hoạch, quản lý đô thị: Tiến hành tổng rà soát quy hoạch đô thị trong quá trình thực hiện dự án hổ trợ kỷ thuật do ADB tài trợ. Tiếp tục bổ sung điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng các phường và các khu đô thị mới trên cơ sở quy hoạch chung và quy hoạch tổng thể đến năm 2020; chú trọng công tác công khai quy hoạch. Tăng mật độ cắm mốc chỉ giới các khu quy hoạch, nhất là các tuyến giao thông để quản lý quy hoạch.
Tăng cường kiểm tra chất lượng các công trình; kiểm tra nghiệm thu hoàn công các khu quy hoạch, các công trình xây dựng; quyết toán các công trình kịp thời, đúng chế độ.
Kiểm tra, xử lý các trường hợp vi phạm trong quản lý và xây dựng nhà ở, quản lý đất đai, đảm bảo quy hoạch, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng lấn chiếm đất công. Tập trung giải toả các lều quán, các hộ chiếm dụng vỉa hè buôn bán trái phép, đảm bảo trật tự và văn minh đô thị.
3.3. Tài nguyên và môi trường.
Thực hiện công tác giao đất, cấp GCNQSD đất đúng quy trình, thủ tục, chuyển mục đích và chuyển quyền sử dụng đất. Tập trung đo đạc để cấp lại GCNQSD đất Tiếp tục giao đất, cấp GCNQSD đất lâm nghiệp, trang trại.
Kiểm tra và đề xuất thu hồi đất các dự án sử dụng không hiệu quả, sai mục đích. Tập trung nguồn lực thực hiện đo đạc, cập nhật chỉnh lý biến động đất đai. Triển khai một bước lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của thị xã và các phường đến năm 2020. Tạo điều kiện để Trung tâm phát triển quỹ đất mới thành lập hoạt động có hiệu quả.
Phê duyệt quy hoạch bảo vệ môi trường thị xã; Triển khai lập quy hoạch chi tiết mạng lưới thu gom chất thải rắn; Điều tra khảo sát các cơ sở gây ô nhiểm môi trường để di dời vào khu, cụm Công nghiệp. Xử lý ô nhiểm môi trường tại các khu vực dân cư.
4. Lĩnh vực văn hoá - xã hội:
4.1. Giáo dục - đào tạo: Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, hoàn thiện mạng lưới trường lớp. Duy trì kết quả Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục THCS, triển khai phổ cập bậc trung học theo đề án, khắc phục tình trạng học sinh bỏ học, thực hiện tốt cuộc vận động hai không trong giáo dục.
Nâng cao hơn nữa chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục bảo đảm trình độ và năng lực. Thực hiện tốt nghị quyết 3.5 của HĐND tỉnh về phát triển giáo dục mầm non.
Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất thiết bị trường học theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá. Thực hiện tốt đề án kiên cố hoá trường, lớp học, tập trung xây dựng các trường mầm non Đông Giang, Đông Lễ; Đông Thanh, Đông Lương, Hương Sen-Phường 5, Trường Lê Hồng Phong, THCS đường 9.
Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển các cơ sở giáo dục đào tạo ngoài công lập.
Phấn đấu đến hết năm 2009 có 80% trường tiểu học, trên 30% trường THCS, trên 25% trường Mầm non đạt chuẩn quốc gia.
4.2. Văn hoá thông tin, tuyên truyền- Thể dục thể thao: Tổ chức tốt các hoạt động thông tin tuyên truyền cổ động, văn hoá văn nghệ, các giải thi đấu TDTT chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn của quê hương đất nước. Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa. Đẩy mạnh xã hội hoá trong lĩnh vực văn hóa - TDTT, chú trọng hơn thể thao thành tích cao, xây dựng thiết chế văn hóa, tập trung nâng cao chất lượng phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá. Taọ sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc thực hiện nếp sống văn minh đô thị.
Chỉ đạo xây dựng trang Web phục vụ công tác chỉ đạo điều hành và quảng bá hình ảnh thị xã, quy hoạch bổ sung hệ thống tuyên truyền, quảng cáo. Làm tốt việc tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, phong trào người tốt, việc tốt, gương điển hình tiên tiến trên các lĩnh vực.
Phấn đấu đến cuối năm 2009 có 01 phường được công nhận phường văn hoá, 5 khu phố, 7 cơ quan, trường học được công nhận đơn vị văn hóa và trên 1.000 hộ gia đình được công nhận gia đình văn hoá.
4.3. Y tế - Dân số- KHH Gia đình: Tăng cường quản lý nhà nước về công tác y tế. Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, quan tâm khám chữa bệnh cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi. Triển khai thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia. Tăng cường công tác khám chữa bệnh ở tuyến y tế cơ sở. Chủ động phòng ngừa và đối phó khi có dịch bệnh xẩy ra.
Tăng cường kiểm tra, thanh tra công tác khám và chữa bệnh, nhất là đối với các phòng khám tư nhân, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Đẩy mạnh hoạt động quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm và quản lý hành nghề y tế tư nhân.
Tiếp tục triển khai và tuyên truyền các văn bản về Dân số, KHHGĐ. Phát triển, củng cố hoạt động các mô hình, câu lạc bộ không sinh con thứ 3 trở lên. Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, giáo dục, tư vấn về DS-KHHGĐ. Giải quyết tốt tình trạng trẻ em lang thang, lao động sớm. Phấn đấu giảm tỷ suất sinh 0,5 - 0,6%o, tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên xuống dưới 1,3%. Hạ tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng xuống dưới 13%.
Thực hiện tốt Chỉ thị của BBT và quyết định của Thủ tướng Chính Phủ về công tác tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009
4.4. Các hoạt động chính sách, xã hội, chăm sóc giáo dục trẻ em, công tác từ thiện, nhân đạo: Tiếp tục giảm nghèo vững chắc, tập trung phát triển sản xuất tạo việc làm, tạo điều kiện hỗ trợ cho người nghèo, các đối tượng chính sách xã hội tiếp cận các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khoẻ. Tăng cường đào tạo dạy nghề, đẩy mạnh xuất khẩu lao động.
Phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 1,6% trở lên, giải quyết việc làm cho trên 1.200 lao động. Giải quyết tốt các chính sách xã hội. Đẩy mạnh các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, xây dựng nhà tình nghĩa cho các đối tượng chính sách.
Làm tốt công tác nhân đạo, từ thiện, tổ chức các hoạt động phòng ngừa thảm hoạ, thiên tai. Tổ chức tốt công tác cứu trợ đột xuất khi có thiên tai xẩy ra.
4.5. Lĩnh vực Tôn giáo: Tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi để các Tổ chức Tôn giáo, đồng bào có đạo thực hiện quyền tự do tín ngưỡng của mình. Vận động đồng bào có đạo tham gia phong trào thi đua, thực hiện tốt các chủ trương của Đảng và Pháp luật của Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc. Ngăn chặn và xử lý kịp thời các trường hợp lợi dụng tự do tôn giáo để gây mất ổn định trên địa bàn.
4.6. Khoa học công nghệ: Đẩy mạnh các hoạt động khoa học, ứng dụng chuyển giao các tiến bộ về giống cây trồng, vật nuôi, thiết bị dây chuyền mới trong sản xuất CN - TTCN; Ứng dụng CNTT vào quản lý hành chính nhà nước.
5. Lĩnh vực nội chính, Tổ chức nhà nước và đối ngoại:
5.1. Thanh tra - Tư pháp và thi hành án: Tăng cường các hoạt động thanh tra kinh tế - xã hội, duy trì công tác tiếp dân, thành lập các Tổ công tác để giải quyết có hiệu quả đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân.
Đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật. Thực hiện có hiệu quả luật phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Nâng cao chất lượng ban hành các văn bản QPPL.
Nâng cao hiệu quả công tác thi hành án, tập trung giải quyết dứt điểm các án tồn động kéo dài.
5.2. Tổ chức Nhà nước, cải cách hành chính: Đổi mới phương thức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan hành chính theo hướng ngày càng thiết thực. Tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính, thực hiện Văn hoá công sở, văn hoá trong giao tiếp của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
Tiếp tục kiện toàn các cơ quan chuyên môn, củng cố tổ chức bộ máy từ thị xã đến phường, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Thực hiện chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức, viên chức theo Nghị định 158/2008/NĐ-CP. Đẩy mạnh thực hiện chương trình cải cách hành chính, tiếp tục thực hiện cơ chế “một cửa”. Tiếp tục chỉ đạo phòng chức năng rà soát, cải cách thủ tục hành chính, thực hiện các quy trình áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 vào cơ quan hành chính Nhà nước.
6. Quốc phòng - An ninh: Tập trung xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh toàn diện. Nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu, tổ chức huấn luyện, diễn tập đạt kết quả cao. Hoàn thành chỉ tiêu tuyển quân năm 2009. Triển khai thực hiện tốt kế hoạch bảo vệ các ngày lễ, tết.
Đẩy mạnh công tác xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
Tiếp tục xây dựng phường, khu phố trong sạch vững mạnh, không có tệ nạn xã hội. Tổ chức các đợt cao điểm truy quét, trấn áp tội phạm và các tệ nạn xã hội như ma tuý, mại dâm; Thực hiện các biện pháp kiềm chế tai nạn giao thông.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
- Trên cơ sở Nghị quyết của cấp uỷ Đảng, HĐND, các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ kế hoạch năm 2009, các đơn vị, địa phương đề cao trách nhiệm, cụ thể hoá bằng chương trình kế hoạch của mình, phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan để triển khai thực hiện kịp thời, có hiệu quả nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế xã hội.
- Các phòng, ban, ngành thị xã, UBND các phường thường xuyên kiểm tra, tháo gỡ khó khăn; Tập trung chỉ đạo các nhiệm vụ trọng tâm, chấp hành nghiêm tiến độ thực hiện các công việc, chế độ báo cáo, thông tin theo quy định.
- Tổ chức phát động phong trào thi đua phát triển sản xuất kinh doanh và xây dựng thị xã văn minh trong tất cả các cấp, các ngành, tổ chức kinh tế, đoàn thể, chính trị, xã hội và nhân dân.
Thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2009 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức, các cấp các ngành cần phát huy hơn nữa vai trò của mình cùng UBMTTQ và các đoàn thể thị xã trong việc tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương chính sách, tạo sự đồng thuận trong toàn xã hội, thực hiện xã hội hoá xây dựng đô thị, giáo dục, y tế, văn hóa...góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu KT-XH của thị xã đã đề ra.
Nơi nhận: TM.UỶ BAN NHÂN DÂN
- UBND tỉnh; CHỦ TỊCH
- TT Thị uỷ, TT HĐND thị xã; (Đã ký)
- Các ban HĐND thị xã;
- CT, PCT, CVP, PVP;
- Văn phòng Thị uỷ;
- Các ban ngành đoàn thể;
- HĐND, UBND các phường;
- Lưu VT, TC-KH. Nguyễn Văn Hùng
|