|
Lịch sử khai phá vùng Ô Châu diễn ra muộn hơn so với đồng bằng Bắc bộ, nhưng với Quảng Trị (trong đó có Đông Hà) thì đây là đất trung chuyển, nơi làm bàn đạp cho hành trình Nam tiến khai phá, mở mang bờ cõi tổ quốc. Muộn nhất cũng vào thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào đóng dinh ở ái Tử thì vùng đất này đã được định hình. Theo đó ngành nghề truyền thống cũng có lịch sử và quá trình phát triển lâu dài. Nói ngành nghề truyền thống ở Đông Hà/ Quảng Trị có một quá trình lịch sử và phát triển lâu dài trước hết là nói đến việc thừa kế, vì rằng các tầng lớp cư dân phía Bắc, chủ yếu là vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh lúc di cư vào vùng đất mới đã mang theo phương thức tổ chức đời sống, cách làm ăn, ngành nghề truyền thống nhằm khai thác tốt nhất tiềm năng đất đai, nguồn nguyên vật liệu sẵn có tại chỗ phục vụ cho nhu cầu đời sống hàng ngày mang tính tự cung tự cấp. Trên thực tế, trải qua nhiều thời kỳ, dù có bị mai một hoặc thất truyền thì các ngành nghề sản xuất, khai thác, chế biến từ nông, lâm, thuỷ sản phát triển chủ yếu ở làng xã là nghề phụ của người nông dân tận dụng thời gian rảnh rỗi còn gọi là nông nhàn. Sản phẩm các ngành nghề phổ biến vẫn là đáp ứng những nhu cầu thiết yếu trong mỗi gia đình trình tự từ thấp đến cao như đan lát đến công cụ, đồ dùng chất liệu bằng gỗ hoặc đồ sắt. Nghề phụ ngày càng được bồi đắp kỹ xảo và khi đã tích luỹ được kỹ thuật ở trình độ cao sẽ xuất hiện những làng nghề với những người thợ có tay nghề cao; sản phẩm sẽ trở thành hàng hóa. Họ sẽ góp một phần quan trọng trong việc cung cấp sản phẩm nghề cho địa phương và lan toả rộng ra trong vùng. Một số ngành nghề tiêu biểu liên quan đến tập quán, khai thác lợi thế tự nhiên, đất đai và nguồn nguyên liệu có sẵn trong vùng trình bày ở mục này phần nào sẽ chứng minh điều đó. 1. Nghề trồng lúa và các loại cây trồng khác Nhìn tổng thể, Đông Hà có 2 dạng địa hình cơ bản là vùng gò đồi ở phía tây và tây nam thích hợp cho việc phát triển canh tác cây lâm nghiệp. Vùng đồng bằng ở phía đông và phía bắc dọc theo hạ lưu các con sông Hiếu, sông Thạch Hãn và sông Vĩnh Phước, với các loại đất phù sa bồi, phù sa không được bồi, đất phù sa Glây, hàng năm được bù đắp khá màu mỡ, phù hợp với việc trồng lúa nước, cây màu và rau hoa. 1. 1. Nghề trồng lúa Nghề trồng lúa nước gắn bó mật thiết với quá trình định cư lâu dài của các cư dân Việt trong các làng xã. Theo "Ô châu cận lục” (1555) thì dưới thời Lê - Mạc, trên vùng đất Đông Hà hiện nay đã có các làng của người Việt như: Hướng Ngao/ Điếu Ngao, Hạ Đô, Thượng Đô/ Thượng Nghĩa, Trung Chỉ, Thượng Độ, Hạ Độ/ Đại Độ, Nghĩa Đoan/ Nghĩa An, Vĩnh Phước, Thiên áng, Tiểu áng/ Đại áng, Lai Cách/ Lai Phước, Liên Trì/ Tây Trì (1). Đến thế kỷ XVIII (1776) ngoài các làng cổ trên - Lê Quý Đôn trong “Phủ biên tạp lục” - còn thống kê thêm một số làng mới hình thành trong khoảng thời gian từ 1553 đến 1776 như: Vân An, Lập Thạch, Phương Lư¬ơng, Phú An, Đông Hà, Đông Vu/ Đông Lai, Thiết Trư¬ờng tử chính, Thiết Trư¬ờng hạ phư¬ờng, Sơn Trập, Sơn Bàng, An Trung ngũ giáp, An Lạc, Thanh Lư¬ơng, Đình Tổ, Thiết Tr¬ường/ Thiết Tràng (1). Khi nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp, chúng tôi nhận thấy rằng nghề trồng lúa nước đều gắn liến với quá trình hình thành và phát triển của các làng nói trên. Trên vùng đất Đông Hà xưa cũng như nay, vùng chuyên canh lúa nước ngoài 2 cánh đồng khá tập trung ở Lương - Lễ và Giang - Thanh thì phần còn lại là những xứ đồng nhỏ lẻ, manh mún; mỗi làng có hàng chục xứ đồng (ví như ở làng Điếu Ngao có xứ Rộộc, Cồn Bói, Cồn Nêu, Đội Thượng, Đội Hạ, Ruộng Già, Xứ Lăng, Đồng Mếc, Khe rắn..; ở làng Vân An có các xứ đồng Thượng Độ, Hạ Độ, Rộc Giữa, Gò giữa, Rộc Dưới, Cồn Đùng, Mõ Hóp, Chắt Chắt, Cửa Trộ...). Ngoài các cánh đồng làng, cư dân còn trồng lúa nước ở trên đất vườn, đất thổ cư. Ruộng đất ở các làng thường được chia thành 3 loại chính: thượng đẳng điền, nhị đẳng điền, hạ đẳng điền, ứng với 3 loại đất tốt, vừa, xấu - theo độ phù sa màu mỡ của đất. Đất đai chủ yếu là ruộng công thuộc sự quản lý của làng xã. Mỗi hộ gia đình đều được chia đều theo suất đinh từ 16 đến 50 tuổi, trung bình mỗi suất đinh được chia từ 1 đến 3 sào Trung Bộ (2), có làng còn ít hơn (ví như: Làng Vân An mỗi suất đinh được chia 2 sào lúa nước, một sào ruộng khô, trong khi đó ở làng Lập Thạch mỗi suất đinh không đến một sào ruộng vì thế dân phải làm nghề trồng bông dệt vải với lợi thế có trên đất bãi bồi ven sông). Trước đây, việc canh tác ruộng lúa nước ở Đông Hà nói chung là hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên. Hệ thống thuỷ lợi hầu như không có. Một vài xứ đồng, chân ruộng gần sông Hiếu, sông Thạch Hãn người ta dẫn thủy vào ruộng bằng cách khơi mương, tát bằng gàu giai, bằng nát (gàu sòng); sau này mới tiến lên một bước mới là dùng xe đạp nước. Phương thức canh tác hoàn toàn bằng thủ công, bằng chính sức người; chủ yếu là cày cuốc. Hình ảnh con trâu, cái cày đã trở thành quen thuộc từ bao đời với người nông dân ở các làng xã nông nghiệp. Lúa được trồng vào 2 vụ chính trong năm: vụ đông xuân (vụ 3) và vụ hè thu (vụ 10); nhưng chủ yếu vẫn trong chờ vào vụ xuân là chính. Để làm vụ xuân, người ta thường ngâm giống, gieo mạ vào giữa tháng 10 âm lịch trên ruộng mạ (trưa mạ); đồng thời tiến hành các khâu làm đất như cày, bừa ướp rồi đắp bờ giữ nước. Đến giữa tháng 11, đầu tháng chạp, các chân ruộng nước được cày lại lần hai, sau đó dùng bừa răng bừa đi bừa lại nhiều lần, vừa làm sạch cỏ vừa làm cho đất mềm, phẳng rồi đến khâu cấy mạ. Giống lúa vụ tháng ba (vụ xuân) thường trồng những giống chín sớm như: áo Già, Ba Giăng, Cúc, các giống nếp. Tuy vậy, thời gian sinh trưởng của lúa cũng khá dài, thường từ 4 đến 5 tháng. Sau thu hoạch vụ xuân, người nông dân tiếp tục tổ chức cày ải, phơi nắng để đất tơi xốp, chống sâu bệnh, chuẩn bị cho vụ 10 (vụ hè thu) - lúa vại (vãi). Quy trình làm vụ hè thu khá công phu, tháng 5 âm lịch dưới trời nam nắng, sau khi cày ải đất, nông dân phải dùng đập vồ làm nhỏ đất, rải phân chuồng lên mặt ruộng sau đó dùng bừa bộộng bừa phẳng, rồi lại cày xới đất, tiếp tục dùng đập vồ đập nhỏ những lát đất còn lớn khi đó mới vãi giống lên mặt ruộng. Vãi xong lại tiếp tục dùng bừa răng bừa qua nhiều đợt cho hạt lúa trộn hẳn trong đất. Sau đó, chờ mưa xuống làm cho đất ruộng mềm, rã ra, kích thích hạt lúa nảy mầm phát triển thành cây lúa. Khi lúa ở thời kỳ sinh trưởng, khoảng một tháng sau nảy mầm, người dân lại ra đồng làm cỏ, nếu gặp thời tiết tốt đặc biệt là có trận mưa rào thấm đất thì dặm lúa - nhổ cây ở những chỗ dày dặm vào những chỗ trống, thưa. Công phu, vất vả là vậy nhưng thu hoạch chẳng là bao. Các giống lúa cổ truyền ngày xưa thường dài ngày, năng suất thấp. Thường ở vụ xuân năng suất cao hơn và chắc ăn hơn vì thời tiết thuận lợi, mưa nhiều ruộng có nước, còn vụ 10 thì hết sức bấp bênh và hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên, trời đất. Có lẽ câu tục ngữ: ”Cầu trời mưa xuống, cho nước ta uống, cho ruộng ta cày.." phản ánh khát khao, ước nguyện của người nông dân đặc biệt là trong sản xuất vụ 10/ hè thu, biểu hiện rất rõ. Trung bình nếu gieo 12kg giống trên một sào ruộng nước vụ xuân thì thu hoạch được khoảng 120kg (theo cách gọi của nông dân là 10 thúng- mỗi thúng 60 lon lúa) và vụ 10 thì thu được khoảng 70 - 80kg vào những năm được mùa, còn gặp những năm mất mùa thì thu hoạch chẳng được là bao. Các loại giống lúa cổ truyền có nhiều ưu điểm như: khả năng thích nghi, sức chống chịu sâu bệnh và thời tiết khắc nghiệt rất tốt, chất lượng gạo thơm ngon; ngoài thóc, còn cho nhiều rơm rạ phục vụ cho nhu cầu đun nấu và làm thức ăn cho trâu, bò. Nhược điểm của giống lúa cổ truyền là thời gian sinh trưởng dài ngày (từ 120 - 180 ngày), không chịu được mức độ thâm canh, tính rủi ro do thời tiết mưa rét, lụt bão gây mất trắng cao, năng suất thấp. Vì vậy, mặc dù nghề trồng lúa nước là nghề chính, người lao động thật sự vất vã cực nhọc trên đồng ruộng, nhưng sản phẩm thu được chẳng là bao; đời sống người nông dân lam lũ, thiếu thốn quanh năm. Tuy nhiên, trong điều kiện bấy giờ, khi nền sản xuất nông nghiệp còn đang rất manh mún, nhỏ lẻ, kỹ thuật lạc hậu, phụ thuộc chính vào thời tiết; khó khăn thiếu thốn trăm bề về công cụ, giống, thủy lợi, phân bón, thuốc trừ sâu... thì việc chọn các giống lúa có những ưu điểm nổi trội nói trên là một kinh nghiệm quý báu, thiết thực trong sản xuất, đời sống của người nông dân xưa. 1. 2. Các loại cây trồng khác 1. 2. 1. Cây ngô Ngoài cây lúa là cây lương thực chính có tính chủ đạo trong các nguồn thực phẩm dinh dưỡng nuôi sống người nông dân thì cây ngô (1) là cây lương thực quan trọng sau lúa, sau cơm tẻ là đến cơm ngô: “Được mùa chớ phụ ngô khoai Đến khi thất bát, lấy ai bạn cùng”. Trên địa bàn Đông Hà, ngô thường được trồng ở các bãi đất bồi ven sông Hiếu, Thạch Hãn, ở các làng Đông Hà, Điếu Ngao, Nghĩa An, Vĩnh Phước, Đại áng, Lai Phước. Hầu hết các gia đình đều có một vài sào đất trồng ngô xen đậu, lạc. Ngô có 2 loại chính thường được người dân ở đây ưa chuộng là ngô tẻ và ngô nếp. Ngô được chế biến làm nhiều món ăn dân dã giàu hàm lượng dinh dưỡng như: rang, luộc, xay bột làm bánh, nấu rượu. Đặc biệt ngô nếp thường được luộc bung, tách ra trộn lẫn với gạo nếp cho thêm ít hành phi và đỗ xanh nấu thành xôi là món ăn ngon bổ, vừa có vị thơm vừa có vị bùi, được xem là món ăn đặc sản của người nông dân. 1. 2. 2. Cây lạc Lạc vừa là cây thực phẩm vừa là cây công nghiệp. Cây lạc là cây trồng khá phổ biến trên các triền đất pha cát ven sông, bãi bồi và sườn đồi; trong các mảnh đất thổ cư của các hộ gia đình không có điều kiện trồng lúa nước; hoặc ở các ruộng (trưa) mạ sau khi đã nhổ mạ gieo cấy. Trồng lạc vừa đáp ứng được một phần lương thực vừa cải tạo được đất trồng. Nhìn tổng thể trên địa bàn Đông Hà diện tích đất trồng lạc không lớn, gia đình trồng nhiều nhất cũng chỉ một đôi sào, còn thường là những vườn đất nhỏ, lẻ. 1. 2. 3. Các loại rau, hoa, quả Cùng với lúa, ngô là những cây lương thực chính thì rất nhiều loại rau thực phẩm được trồng phổ biến ở các làng quê Đông Hà. Không một gia đình nào thiếu vắng những loại rau, hoa, quả trồng quanh năm ở vườn nhà, ở các ao hồ, ven sông...; đó chính là nguồn thực phẩm bổ sung không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của người dân và nhất là trồng hoa để phục vụ cho việc thờ cúng là chủ yếu. Các giống rau, quả cổ truyền được nhân dân trồng thường xuyên trong vườn có thể phân thành 3 nhóm chính: Nhóm rau ăn củ như: củ cải, hành, tỏi, khoai lang. Nhóm rau ăn quả như: cà chua, cà pháo, cà trắng, mướp ngọt, mướp hương, mướp đắng, bầu, bí đao, bí đỏ, chuối hương, chuối cau, chuối lùn... Nhóm rau ăn lá phải kể đến các loại như: rau muống, rau lang, rau dền, rau thơm, cải bẹ, rau bí... Ngoài các giống rau cổ truyền được nhân dân trồng thường xuyên trong gia đình, thời Pháp thuộc đã cho nhập nội nhiều loại rau có nguồn gốc ôn đới, được thuần hóa trồng phổ biến ở nhiều vùng miền trong cả nước, tùy theo điều kiện môi trường, thổ nhưỡng, khí hậu. ở Đông Hà có nhiều loại rau nhập ngoại như: rau tây, su hào, su lơ, bắp cải, cần tây, hành tây, đậu Hà Lan... được trồng khá phổ biến; góp phần tạo thêm nguồn thực phẩm quan trọng trong từng hộ gia đình và phát triển thành hàng hoá. Thời kỳ trước đây, rau các loại là những cây trồng phụ chỉ đáp ứng được nhu cầu tự cung tự cấp trong các làng xã hoặc mang tính trao đổi hàng hoá ở mức nhỏ lẻ. Phải đến những năm thập niên 90 (tk XX), khi Đông Hà trở thành thị xã tỉnh lỵ, quá trình đô thị hoá với việc tập trung một lực lượng lớn cư dân phi nông nghiệp diễn ra trên địa bàn thì việc sản xuất rau, hoa, quả để đáp ứng nhu cầu của người dân đô thị ngày một tăng đã làm cho nghề trồng rau, hoa, quả thực sự trở thành một nghề chính. Những năm gần đây, trước nhu cầu của đời sống người dân đô thị, nghề trồng rau, hoa ở thị xã Đông Hà rất phát triển cả về số lượng, trình độ và qui mô. Từ việc đầu tư cơ sở hạ tầng, chuyển giao qui trình công nghệ, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, du nhập các giống mới, đầu tư thâm canh, xen canh và luân canh... đã nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập và cải thiện đời sống của người dân, góp phần thúc đẩy nền kinh tế khu vực nông nghiệp phát triển. Trình độ tay nghề và kinh nghiệm trồng rau, hoa ở các làng ven đô đã được nâng lên rõ rệt; hình thành các vùng chuyên canh theo hướng sản xuất hàng hoá như An Lạc, Vĩnh Ninh, Thượng Nghĩa (Đông Giang), Nghĩa An (Đông Thanh)... Cùng với việc tuyển chọn các giống rau, hoa truyền thống có chất lượng và đẩy mạnh du nhập các giống rau hoa mới, đã xác lập được bộ giống rau hoa chủ lực, đưa vào sản xuất có hiệu quả như: cải các loại, xà lách, rau dền, mướp đắng, dưa chuột, bí đao xanh, rau mùi, cần tây, brô, tập đoàn cúc sind, hoa hồng ngoại, cẩm chướng... đáp ứng ngày càng cao yêu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng. Cơ sở hạ tầng ở các vùng sản xuất rau hoa những năm gần đây được quan tâm đầu tư xây dựng như qui hoạch cải tạo đồng ruộng, xây dựng đường điện, giao thông nội đồng, thuỷ lợi và hệ thống tưới phun, nhà lưới... tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, thay đổi tập quán canh tác theo hướng tiến bộ, đẩy mạnh thâm canh, tăng năng suất cây trồng. Qui trình kỹ thuật sản xuất rau, hoa có nhiều cải tiến phù hợp với điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai thổ nhưỡng và lao động trên địa bàn như : bố trí thời vụ hợp lý, tuyển chọn và du nhập có giống có hiệu quả kinh tế, công tác bảo vệ thực vật, bón phân hướng theo qui trình sản xuất rau an toàn. Để tạo điều kiện cho nghề trồng rau hoa phát triển, thị xã Đông Hà đã nghiên cứu hoàn thành qui hoạch và có chính sách hỗ trợ để xây dựng, hình thành các vùng sản xuất rau hoa tập trung theo hướng sản xuất hàng hoá với tổng diện tích gần 120 ha. Thực hiện sản xuất rau an toàn, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nhằm nâng cao chất lượng, hình thức của sản phẩm và hiệu quả kinh tế. 1. 3. Vai trò ý nghĩa các cây trồng trong đời sống người dân và việc hình thành đặc trưng văn hóa nông nghiệp/nông dân Lúa trồng (lúa nước và lúa khô) là cây bản địa của Việt Nam. Từ bao đời nay, đối với người dân Đông Hà/ Quảng Trị, lúa là cây lương thực chính gắn bó máu thịt với người nông dân. Nói đến người Việt là nói đến nền văn hóa - văn minh lúa nước. Hình ảnh cây lúa đã ăn sâu vào cách nhìn, cách làm, cách nghĩ của người Việt, chi phối mạnh mẽ đến phong cách, tâm lý, tâm hồn và bản sắc văn hóa từng vùng, miền. Thực chất của lúa gạo từ nghìn đời nay, bao giờ cũng được hiểu là công sức, là mồ hôi của người lao động. Nhìn vào quy trình sản xuất của người nông dân, từ công đoạn cày bừa, gieo mạ, cấy lúa, làm cỏ, bón phân cho đến khi gặt hái đưa được hạt lúa về nhà quả là bao công sức nhọc nhằn, là cả một quá trình mà người nông dân “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” không kể sớm trưa, chiều tối. Rồi từ hạt lúa cũng phải qua nhiều công đọan công phu khác như: phơi, quạt, cất giữ rồi xay xát, đâm giã, dần sàng... mới cho ra hạt gạo, bát cơm. Cho nên hạt lúa, hạt cơm trong cảm quan của người nông dân ở khắp mọi làng quê Việt Nam là hạt ngọc của trời. Người ta dành cho hạt lúa tình cảm thiêng liêng, nâng niu quý trọng: “Ai ơi bưng bát cơm đầy/ Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần” là thế. Sự khẳng định giá trị của hạt gạo - hạt vàng còn là hệ quả của cách nói ẩn dụ từ tấc đất, tấc vàng, cánh đồng vàng cho đến mùa vàng. Đây là ước mơ và là sự nhận thức thực tiễn đầy trân trọng của người nông dân làm lúa nước. Lúa gạo là kho báu, là tài nguyên vô tận của trời đất/ đất nước được sức người khai thác tạo nên. Rất nhiều hình ảnh biểu hiện trong đời sống, thể hiện tình cảm nâng niu trân trọng của người nông dân giành cho hạt gạo và coi đó là hạt ngọc. Việc làm rơi vãi hay phí phạm cơm, gạo bị xem là một tội lỗi. Thành ngữ: “cơm tẻ, mẹ ruột” trong dân gian cũng có giá trị đúc kết một quan niệm không thể nào phủ nhận, rằng cơm gạo là thức ăn lành nhất, là thứ quý nhất trên đời, có thể ví với cả cội nguồn máu thịt của con người. Mặc dầu trong điều kiện làm việc hết sức thô sơ, lạc hậu phải vất vả “chân lấm tay bùn, một nắng hai sương”, “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, người nông dân vẫn luôn nhìn thế giới xung quanh bằng tình cảm nâng niu, lạc quan, yêu đời. Người ta thường dùng nhiều ngôn từ tốt đẹp, không kém phần thi vị để diễn tả các thời kỳ sinh trưởng của cây lúa như: thời con gái, uốn câu, trổ bông, phơi màu, ngậm sữa, vào mẫy, kết hạt, đỏ đuôi... Ngày xưa giống lúa ngắn ngày nhất là giống Ba Giăng (ba trăng)- ba tháng. Nói ba tháng là nói con số cụ thể 90 ngày, còn nói ba giăng là đến sự trông đợi mỏi mắt của người trồng lúa, từ lúc lúa lên xanh, qua thời con gái đến đỏ đuôi và ăn chắc. Đến như món cháo nấu bằng gạo tẻ cho hạt nở bung ra, không hề cho thêm bất kỳ một gia vị nào cũng được gọi bằng cái tên hết sức mĩ miều, trân trọng là “cháo hoa” và từng dự vào hàng lễ vật quan trọng, không thể thiếu trong các mâm cúng thổ thần, trời đất. Đó là chưa kể đến hàng trăm câu ca dao mộc mạc nhưng đầy tình cảm, mang tâm hồn thơ, nghệ sĩ của những thợ cấy, thợ cày khi nói về đồng lúa, luống cày, con trâu, nắng mưa, thời tiết, với mùa màng... Trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên, nghề trồng trọt nói chung hay trồng lúa nói riêng buộc người nông dân phải sống định cư ổn định để chờ cây cối lớn lên, ra hoa kết trái và thu hoạch. Do sống cộng cư lâu dài trên một khu vực cư trú, sản xuất, trên cùng một cánh đồng, uống nước trên một dòng sông nên người nông dân có tính cấu kết cộng đồng cao, sống trọng tình, coi trọng tình làng nghĩa xóm, yêu quê hương, làng nước. Lối sống trọng tình dẫn đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ... Kính trọng người già, ông bà, cha mẹ; nghèo khó vẫn lo cho con cái ăn học, đề cao học hành, khoa cử; đề cao vai trò người phụ nữ trong gia đình “con dại cái mang”, “phúc đức tại mẫu”, “con hư tại mẹ” là thế. Do sống phụ thuộc vào thiên nhiên nên người nông dân, nông nghiệp có ý thức tôn trọng và ước vọng sống hòa hợp với thiên nhiên. Các từ “lạy trời”, “nhờ trời”, “ơn trời” là từ cửa miệng của người nông dân trồng lúa nước. Nông nghiệp lúa nước cùng một lúc phụ thuộc vào tất cả mọi hiện tượng tự nhiên: “Trông trời, trông đất, trông mây, trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm”, cho nên về nhận thức, hình thành nên lối tư duy tổng hợp và lôgic biện chứng; nhìn nhận sâu sát mối quan hệ giữa các yếu tố của thiên nhiên trời đất và tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm liên quan đến đời sống và sản xuất: “Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa”, “được mùa lúa thì úa mùa cau”, “chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa”, “ráng mỡ gà, ai có nhà phải chống”/ (hiện tượng bão)... Những đặc tính cơ bản ấy là đặc tính chung của người nông dân, nông nghiệp lúa nước. So với nhiều vùng trên cả nước thì môi trường và điều kiện sản xuất lúa nước ở Đông Hà/ Quảng Trị còn gian nan hơn, vất vả hơn (sự tác động của thiên nhiên mang nhiều yếu tố bất lợi hơn, đồng ruộng nhỏ hẹp hơn, độ phù sa của đất thấp hơn, hệ thống dẫn thủy khó khăn hơn...). Điều đó làm cho người nông dân Đông Hà biểu hiện những đặc tính cơ bản ấy sâu sắc hơn và rõ nét hơn, trong mối quan hệ với con người với trời, đất. 2. Các nghề thủ công 2. 1. Nghề rèn 2. 1. 1. Lịch sử hình thành và phát triển làng nghề Trên địa bàn Đông Hà có một làng rèn khá phát triển về quy mô và tính chất nghề nghiệp: làng rèn Đông Hà. Làng rèn Đông Hà ngày nay là một trong những khóm phố của phường III thị xã Đông Hà. Đây là dãi đất hẹp nằm dọc theo bờ nam của sông Hiếu, cận kề vùng bán sơn địa; phía đông giáp thôn Tây Trì (phường I), phía nam giáp sông con (hạ lưu của hồ Khe Mây) cạnh quốc lộ 9 và phía tây giáp thôn Thiết Tràng (phường IV). Tuy ở gần sông suối nhưng đất đai không được màu mỡ, hạn chế phát triển sản xuất trồng trọt. Làng Đông Hà được hình thành dưới thời chúa Nguyễn (1). Khi nghiên cứu về lịch sử làng rèn Đông Hà, có người cho rằng dòng họ khai khẩn ở đây là người từ Đông Triều, Hải Dương vào đây lập nghiệp (2); cũng có người cho là quê gốc làng Đông Hà từ làng Hiền Lương (3); lại có người cho là những người họ Trần ở Đông Hà là một trong 6 nhánh của tộc Trần từ Quang Hội (Nghệ An) di cư vào Nam đến nay đã qua 14 đời. Song có một thực tế là nghề rèn không hẳn đã xuất hiện cùng lúc với sự thành lập làng. Trong 5 họ: Trần, Nguyễn, Lê, Ngô, Hoàng đến từ buổi đầu định cư lập làng ở đây có gốc gác từ các miền đất khác nhau. Có họ từ Thanh Hóa, Nghệ An, có họ di cư từ chính vùng đất Quảng Trị. Liên quan đến ông tổ rèn thì chỉ có hai dòng họ là Trần Đình và Nguyễn Đức. Cả 2 họ đều xác nhận là các vị thủy tổ khai canh dòng họ mình cũng là người đem kỹ thuật luyện rèn sắt vào làng Đông Hà này. Theo như lời của các cụ cao niên ở họ Nguyễn, đặc biệt là ông Nguyễn Hữu Quý và bản dịch gia phả họ Nguyễn Đức do cụ Nguyễn Đức Suyễn (gần 90 tuổi) cung cấp thì nghề rèn được truyền vào Đông Hà là do hai anh em họ Nguyễn Đức người làng Lễ Môn (Do Linh). Sinh sống ở đây một thời gian, người em ở lại làng với mẹ là bà Hoàng Thị Nở, còn người anh quay lại làng Lễ Môn sinh sống lập nghiệp ở đó (1). Trong lúc đó dân làng vẫn coi họ Trần Đình có công trong việc truyền bá nghề rèn ở đây. Có ý kiến lại cho rằng làng rèn Đông Hà cũng là một trong những “hàng kỉnh” của làng rèn Hiền Lương (2). Và trên thực tế thì: “Có những làng nghề hình thành do học được nghề ở nơi khác đem về, cũng có làng tự tìm tòi và phát triển dần mới thành nghề. Có những làng dựa vào ưu thế về nguyên liệu, về địa thế gần chợ, gần sông, cũng có làng chỉ có tay nghề” (3). Một biểu hiện cụ thể khác là việc cúng giỗ tổ nghề rèn của làng Đông Hà lấy ngày 9 tháng giêng âm lịch hàng năm. Phải chăng đây chỉ là con số ước lệ mà dân làm nghề rèn tự đặt ra về sau chứ không liên quan gì đến tổ tiên họ. Với một lôgic như vậy, theo chúng tôi, sự hình thành nghề rèn ở Đông Hà là do một số người (chủ yếu là của hai họ Trần Đình và họ Nguyễn Đức) học hỏi được ở nơi khác, khi đến vùng đất này sinh sống nhờ có vị trí địa lý (gần chợ, gần sông...), nguồn nguyên liệu thuận lợi; trong khi đất đai cho sản xuất nông nghiệp không nhiều nên đã hình thành các lò rèn để con cháu có nghề nghiệp ổn định trên mảnh đất mình khai canh lập nghiệp. Do vậy, có thể khẳng định chắc chắn rằng nghề rèn đã xuất hiện ở làng Đông Hà khá sớm, nó được củng cố, phát triển cùng với sự phát triển của làng xã, của các dòng họ và dần dần đã hình thành nên một nghề tập trung đông đúc, phát triển thịnh đạt vào các thế kỷ XVII - XIX và tồn tại cho đến ngày nay. 2. 1. 2. Quy trình sản xuất và các sản phẩm Nguyên liệu chính để nghề rèn hoạt động là sắt. Để có những thanh sắt thép dùng làm nguyên liệu tạo ra những sản phẩm có độ sắc bén như dao, rựa, kéo... người thợ rèn ở đây phải tiến hành công việc luyện sắt bằng phương pháp thủ công hết sức công phu và cực nhọc. Muốn có sắt thì phải tiến hành khai thác quặng (tiếng địa phương là quéng - trong khi dân cư ở làng rèn Hiền Lương gọi là quánh). Quéng là một loại quặng ở dạng tạp chất pha trộn đất, đá, sắt. Quéng nằm trong lòng đất nhưng không sâu lắm. Người ta đào hố tìm mạch quéng rồi đập, móc nhọn những viên màu sáng gánh về các lò luyện. Nguồn nguyên liệu này ban đầu có sẵn ở địa phương trên một gò đất phía sau làng (có tên là Độộng Quéng). Về sau, dân làng rèn Đông Hà còn tiến hành khai thác quặng tại các mỏ có hàm lượng sắt lớn ở vùng Khe Su, Rào Vịnh (đầu nguồn sông Vĩnh phước), cách xa làng về phía tây 12 - 15km. Khác với dân làng rèn Hiền Lương (Huế), thợ rèn Đông Hà không tiến hành luỵện sắt ở nơi khai thác quặng mà đưa tất cả về làng, sau đó mới tiến hành tôi luyện. Chính vì vậy, các tạp chất thải ra sau khi luyện sắt được đem đổ ở phía sau rìa làng, lâu ngày thành gò đống, dân làng gọi bằng cái tên hết sức dân dã là “Gò Cứt Sắt”. Kỹ thuật luyện sắt của làng Đông Hà gần giống như kỹ thuật luyện sắt thủ công của các làng nghề rèn khác trong vùng. Khi các viên quặng được đưa về, họ đập nát ra bằng các viên sỏi, chất vào lò rồi dùng than để đốt. Lò đốt là một hố sâu khoảng 0,6 - 0,8m, chiều dài mỗi cạnh chừng 0,3m. Khi nấu sắt, đổ một lớp tro mỏng vào hố, rồi đổ lớp than khoảng 0,3m, trên là lớp quặng dày tương tự. Cứ một lớp than thì một lớp quặng như thế cho đến khi đầy, vun thành hình nón và lớp trên cùng bao giờ cũng phải là than. Mỗi lò hết chừng 5 thùng than và lượng quặng tương ứng. Thời gian nung lò liên tục cả ngày lẫn đêm. Khi đến nhiệt độ nhất định, quặng sẽ nóng chảy thành một thứ nước đặc sệt, những tạp chất lắng xuống dưới than gọi là xỉ sắt. Thợ cả dùng móc chọc thủng phía trên lấy sắt ra, đặt lên đe, dùng búa dùng tạ nhồi, rồi đưa vào nung đỏ và tiếp tục làm đến 4 - 5 lượt như vậy mới tạo được 1 thỏi sắt nguyên. Để tạo ra sản phẩm, người thợ phải tôi luyện, quai đập cả ngày, sắt mới được đưa ra chế tạo công cụ. Để có được những sản phẩm có uy tín, chất lượng thì phải có những người thợ lành nghề, dày dặn kinh nghiệm không chỉ trong việc chế tạo sản phẩm mà còn ở khâu luyện quặng. Điều cần phải nói đến là mỗi làng nghề luôn có ít nhất một sản phẩm có tính đặc trưng chứa đựng bí quyết nghề nghiệp mà không một làng nghề khác tạo được với một chất lượng y như thế. Vì thế, ở góc độ nào đó, kỹ thuật luyện sắt cũng là một công đoạn đầu tiên nhằm để tạo ra sản phẩm của riêng làng mình như cách nói của dân làng rèn Đông Hà khi nhắc đến cây dao Lợ (1) nổi tiếng từ xưa đến nay. Ngày nay khi mà nguồn sắt nguyên liệu rất dồi dào phong phú, nhất là từ phế liệu chiến tranh nên dân làng Đông Hà thay thế nguyên liệu từ quặng chuyển sang luyện sắt từ phế liệu. Công việc trở nên đơn giản hơn, có nhiều thời gian hơn để chú tâm vào công đoạn rèn tạo sản phẩm. Công việc ở lò rèn thường gắn chặt vào với các thành viên trong gia đình. Lò rèn đơn giản chỉ có từ 3 - 4 người là có thể sản xuất được. Phân công lao động thường được bố trí theo kiểu 3 thợ phụ + 1 thợ cả. Thợ cả thường là người trụ cột gia đình, có tay nghề cao. Hệ thống lò có: lò thổi và lò môi. Lò thổi được cấu tạo bằng một ống sắt nằm ngang nối thẳng gốc với ống gỗ to dựng đứng, trong có ống bùi nhùi thụt lên (hút khí) thụt xuống (nén khí), giống như pittông bơm xe dùng để thổi lò. Ngày nay lò thổi được thay thế bằng mô tơ điện đơn giản hơn nhiều. Lò môi hình ô van, nối vào miệng ống sắt là điểm nút đầu ra của lò thổi cấu tạo bằng đất sét và đây là bệ bỏ than để tôi (nung) sắt. Ngoài ra bên trái lò thường đặt một sạp tre đủ để cho ông thợ cả ngồi rèn. Cạnh lò rèn còn có máng nước dùng để tôi. Trước mặt ông thợ cả là đe (thỏi sắt hình tròn), với đủ các hình, cở nhỏ to (đk từ 10 - 30cm) đóng chặt xuống nền nhà. Các dụng cụ hành nghề như búa lớn (búa quai, búa tạ) , búa nhỏ (búa vít), ve, chạm, dũa, gọt (đều làm bằng thép), chẻn (thanh tre giữ dụng cụ cần rèn vào đe để gọt dũa); kềm gắp sắt (mũi nhọn, dài từ 50 - 60cm), chiếc chổi rơm tròn, nhúng nước dùng để tóm than, tro bụi. Mỗi kíp thợ làm việc trong một lò rèn có một thợ cả và một đến 2 người quai búa. Mỗi sản phẩm tạo ra hoàn thiện đem sử dụng phải qua 2 giai đọan “nóng” và “nguội”. Mỗi khâu gồm nhiều công việc phải làm, ví như khâu “nóng” gồm có chọn sắt, thép, lòng thép vào sắt rồi đem nung cho sắt và thép đánh thành hình sản phẩm; sau đó chuyển qua khâu “nguội” (gọt, dũa, đàn lại...) rồi đem tôi (nhúng sản phẩm vào nước sau khi nung lửa) cho thép già, chắc . Tiếp theo, người ta thực hiện các thao tác “phay nguội” (gọt) rồi hoàn thiện sản phẩm. Tra dụng cụ vào cán (nếu là dao, rựa...) có tra khâu đồng hoặc sắt. Thông thường gỗ làm cán dao, rựa lấy từ thân cây vị, cây ran, cây căng - những cây có độ dẻo cao, bền và không gãy; sau đó đưa dụng cụ ra mài. Đá mài cũng là một loại đá đặc chủng trong vùng được lấy từ khe Đá Mài - một khe nhánh thượng nguồn sông Hiếu. Mài một cây rựa cho đến độ sắc bén thông thường cũng phải mất 1 - 2 tiếng đồng hồ. Một kíp thợ làm cật lực trong ngày cũng chỉ cho ra lò hoàn thiện từ 4 đến 5 cây rựa. Sản phẩm từ làng rèn Đông Hà khá phong phú, chủ yếu là những dụng cụ phục vụ cho sinh họat gia đình, công cụ sản xuất nông nghiệp và các ngành nghề khác; từ dao (dao lợ, dao phay, nhíp...), rựa, búa, rìu, lưỡi cưa, cuốc (cuốc chim, cuốc bàn, cuốc len, cuốc chét, cuốc răng...), liềm, hái, lưỡi cày, chàng, đục, búa, kéo... đến những dụng cụ có yêu cầu kỹ thuật cao hơn như: kim, con quay (dùng trong nghề dệt), quẹt lửa.. cung cấp khắp trong vùng. Thời kỳ đầu, khi mới hình thành và sản xuất những sản phẩm, làng rèn Đông Hà chỉ phục vụ cho nhu cầu của chính người dân làng rèn và một ít làng xã phụ cận, dần dần càng về sau càng mở rộng sản xuất và trao đổi hàng hóa ở nhiều vùng miền xa hơn. Theo con đường thượng đạo (đường 9) và qua chợ Phiên, sản phẩm của làng rèn Đông Hà cung cấp cho các vùng Cam Lộ, Cùa, Khe Sanh, Lao Bảo, qua tận nước bạn Lào, đi đến từng gia đình của bà con dân tộc thiểu số Pacô, Vân Kiều. Sản phẩm nông cụ như: dao, rựa, cuốc, lưỡi cày.. còn xuôi sông Hiếu, ra chợ Sòng, vô tận Triệu Phong, Hải Lăng... phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của bà con nông dân. Một số sản phẩm truyền thống nổi tiếng như “dao lợ” còn đi xa ra tận Quảng Bình, vào Thừa Thiên Huế mặc dầu ở những nơi đây vẫn có những làng rèn nổi tiếng. Hoạt động sản xuất ở làng rèn Đông Hà cơ bản là sản xuất mang tính hộ gia đình nên việc truyền nghề, học nghề chỉ diễn ra trong phạm vi gia đình. Người thợ là đàn ông nên những đứa con trai ngay từ nhỏ đã được ông bố, người anh tập tành cầm đe, cầm búa. Cứ theo thời gian như thế, tuổi đời, tuổi nghề lớn lên, thành thục dần; những bí quyết nghề nghiệp, những kỹ thuật tinh xảo chỉ thực sự được lưu truyền khi con trai đã ở tuổi trưởng thành. Những thợ học nghề khác làng, khác họ thì khó có thể được truyền dạy hết bí quyết, chỉ khi những người này chịu lấy vợ trong các gia đình có nghề hoặc ở lại làm chung với lò mà họ đã học nghề. Đó chính là những nguyên tắc để giữ bí mật và bí quyết nghề nghiệp của các làng nghề thủ công truyền thống. Nhưng chính sự bí mật tuyệt đối nghề nghiệp, tính độc quyền của các thế hệ thợ thủ công trong mỗi nghề, mỗi làng nghề như thế lại là tác nhân kìm hãm sự phát triển nghề và làng nghề. Bởi mỗi làng nghề dường như là một lãnh địa riêng, khép kín bất khả xâm phạm. Mặc dù trên thực tế, việc truyền nghề từ làng này sang làng khác vẫn diễn ra một cách tự nhiên nhưng nên không đâu có thể đạt được trình độ sản xuất kỹ thuật và thủ pháp nghệ thuật bằng làng có gốc nghề (1). Quy mô họat động và tổ chức sản xuất ở làng rèn Đông Hà tuy khá chuyên nghiệp, nhưng trước sau vẫn mang tính chất gia đình chứ chưa tổ chức thành phường hội và vẫn không thoát khỏi kinh tế nông nghiệp. Nhiều gia đình trong làng vẫn thuần túy làm nông và nhiều lò rèn lâu năm vẫn không tách khỏi nông nghiệp và trong các sinh họat văn hóa tâm linh khác. Ngoài ngày giỗ tổ nghề theo quy ước (mồng 9 tháng giêng), những gia đình làm nghề rèn vẫn không có gì khác biệt những gia đình làm nông nghiệp hay buôn bán khi họ thực hiện các phận sự của những thành viên trong cộng đồng làng xã (như: tham gia các lễ xuống đồng cầu mưa vào ngày 12/6 ÂL; lễ hội tưởng niệm các vị thủy tổ khai canh, khai khẩn; lễ cúng bái sơn thần; thổ công và đặc biệt là lễ hội đua thuyền vào mùa xuân trên sông Hiếu). Hoạt động nghề rèn không tách rời khỏi các hoạt động nghề nông mà gắn bó mật thiết; nhờ đó đã tạo nên mối cộng sinh, cộng cảm, củng cố tình làng nghĩa xóm, gắn kết cùng nhau để phát triển nghề nghiệp và phát triển làng xóm. Ngày nay, trước thời đại bùng nổ về khoa học kỹ thuật và công nghệ, thời kỳ phát triển nền kinh tế thị trường thì nghề rèn ở làng Đông Hà gặp nhiều khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ. Sản phẩm đơn điệu, chất lượng, hình thức mẫu mã khó cạnh tranh được trên thị trường nên nghề rèn có nguy cơ bị mai một dần. Vì vậy, cần phải có những giải pháp thích hợp để duy trì và đưa nghề rèn phát triển đi lên. 2. 2. Nghề bông vải sợi làng Lập Thạch Trong các làng xã xưa của vùng đất Đông Hà, phần lớn các hộ gia đình nông dân đều dành ra ít nhiều vài thửa đất cho việc trồng bông và mỗi gia đình đều có ít nhất là một khung cửi dành cho việc tự dệt vải để đảm bảo việc mặc cho mỗi thành viên. Duy có một làng nghề trồng bông dệt vải trở thành nghành nghề sản xuất quan trọng, không chỉ đáp ứng cho nhu cầu tự thân mà còn để mua bán trao đổi, trở thành nguồn thu nhập khá lớn trong đời sống gia đình; đó là làng Lập Thạch. 2. 2. 1 Đôi nét về vị trí địa lý, lịch sử làng Lập Thạch Lập Thạch là một làng thuộc phường Đông Lễ, nằm trên hữu ngạn sông Thạch Hãn; phía tây giáp vùng đồi và đất thổ cư của phường V, phía bắc là trung tâm thị xã, phía nam giáp phường Đông Lương, phía đông là ngã ba sông - nơi giao điểm gặp nhau của sông Thạch Hãn và sông Hiếu. Diện tích toàn bộ đất tự nhiên của làng là 270ha, trong đó gần 100ha đất trồng lúa nước, hơn 20ha đất là bãi phù sa thích hợp cho việc trồng màu và trồng bông. Năm 1776, Lê Quý Đôn trong tác phẩm “Phủ biên tạp lục” đã thống kê địa danh Lập Thạch trong danh mục 22 xã, phường thuộc tổng An Đôn huyện Đăng Xương, phủ Triệu Phong (1). Nghệ sĩ nhân dân Xuân Đàm trong bài nghiên cứu về "Làng Lập Thạch" đã dẫn “làng chí” Lập Thạch và cho rằng tổ tiên làng Lập Thạch từ Nghệ - Tĩnh di cư vào đây sinh cơ lập nghiệp trong khoảng thời gian từ năm 1448 - 1490, dưới thời Lê Thánh Tông (2). Theo các cụ trưởng tộc, cao niên trong làng thì thời điểm làng Lập Thạch hình thành trên vùng đất này đến nay đã trải qua trên dưới 500 năm. Con cháu hiện taị ở làng sinh sống ở đây cũng đã trải qua trên 20 đời (khoảng 400 năm). Sách “Ô châu cận lục” của Dương Văn An (năm 1555) không thấy thống kê làng Lập Thạch. Vì thế, chúng tôi thiên về ý kiến cho rằng: làng Lập Thạch hình thành dưới thời chúa Nguyễn, ở thời điểm cùng với đoàn quân đi theo chúa Nguyễn Hoàng vào định đô tại Aí Tử năm 1558. Làng có 6 họ tộc chính sinh sống trên mảnh đất này trải qua hàng trăm năm. Họ Trần là dòng họ tiền khai khẩn. Thuỷ tổ họ Trần là Trần Quý Công, một vị quan to, có nhiều công lao trong việc khai khẩn vùng đất Lập Thạch nên được làng xin xây lăng, lập miếu để phụng thờ. Họ Nguyễn và họ Phạm là hai dòng họ chung lưng đấu cật mở mang khai phá dựng làng từ xưa đến nay. Thuỷ tổ họ Nguyễn là Nguyễn Quý Công tước Đô ty triều hầu, do có công với dân với nước được dân làng lập đền thờ tại Vân Hồ cạnh miếu tiền khai khẩn. Họ Nguyễn sinh hạ đông, đến đời thứ 6 thì chia ra 5 phái, sau trở thành 5 họ: Nguyễn Thế, Nguyễn Văn, Nguyễn Đức, Nguyễn khắc, Nguyễn Hữu. Họ Phạm là dòng dõi đại thần (như: Đô Tư nguyên soái vi đô hộ giá đốc phủ Phạm Cương là người tiền khai khẩn làng Diên Khánh). Thuỷ tổ họ Phạm húy Tự Đoan Phạm Quý Công, đến đời thứ 8 có quan phó úy Phạm Văn Tựu tước Đặc tấn tướng quân khâm sai phó vệ úy chủ tự hầu. Do có công với nước, với dân nên được làng lập miếu thờ tại Vân Hồ, cạnh miếu quan họ Trần, Nguyễn. Trước cách mạng, Lập Thạch có khoảng 150 hộ, gần 1000 nhân khẩu với khoảng 300 suất đinh được chia ruộng đất, toàn bộ ruộng đất của làng đều là công hữu. Trừ một số ít ruộng đất dành cho các dòng họ và chi phái dùng làm hương hỏa thờ cúng tổ tiên thì đại bộ phận ruộng đất được chia đều cho các suất đinh theo lệ cứ 3 năm chia lại một lần. Dân làng Lập Thạch trước đây sống bằng nghề nông: làm ruộng, chăn nuôi và phát triển nghề trồng bông dệt vải. Lập Thạch là làng có bề dày lịch sử, kể từ khi mở đất lập làng nơi đây đã có nhiều quan lại tham gia cùng các chúa Nguyễn mở đất, khai phá đất Đàng Trong. 2. 2. 2. Nghề trồng bông sợi, dệt vải truyền thống Làng Lập Thạch có hơn 20ha bãi đất phù sa chạy dọc theo triền sông Thạch Hãn; trước đây, khu vực này dành cho việc trồng bông. Cứ sau mỗi mùa lũ lụt, lớp phù sa lại càng dày thêm, độ phì nhiêu trong đất càng được bù đắp. Vào khoảng tháng 11, 12 âm lịch hàng năm (đây là thời kỳ hết lũ lụt) chờ cho đất ráo, dân làng Lập Thạch từ già trẻ, gái trai tập trung ra đồng cày xới đất chuẩn bị cho mùa trồng bông. Trước khi gieo hạt bông, đất được cày xới nhiều lần, làm sạch cỏ, phủ lên lớp phân chuồng rồi dùng vồ hoặc bừa bộộng làm nhỏ đất. Sau đó vãi đều hạt bông lên mặt và tiếp tục cày xới cho hạt bông nằm trộn lẫn trong đất (công đoạn này như làm lúa khô vụ hè thu). Sau khi tra hạt bông, dân làng tiếp tục đánh luống tra ngô và đậu thành từng hàng cách nhau khoảng 1m. Vậy là trên cùng một thửa đất họ đã gieo một lúc cùng ba giống cây: Hạt bông vung đều, đậu và ngô tỉa chung thành từng luống. Hạt bông thường được chọn giống từ mùa hè năm trước, phơi khô cho vào chum sành cất giữ đợi mùa gieo. Công việc gieo hạt thường hoàn thành trước tết âm lịch, đến giêng hai, khi mùa xuân nắng ấm, các hạt nảy mầm vài ba lá, phụ nữ và trẻ em tập trung làm cỏ. Chừng đến tháng hai khi bông, ngô, đậu đã vào thời con gái, người ta bắt đầu vun gốc lần 2. Đợi đến tháng tư, sau khi thu hoạch ngô, đậu, người ta tiến hành làm sạch ruộng để cho cây bông phát triển. Vào tháng 5, khi những trái bông xanh chuyển màu vàng, gặp những ngày tốt nắng, trái bông nở phơi ra những cánh bông trắng; dân làng đổ ra đồng hái bông. Bông được hái trong khoảng thời gian sương sớm trong ngày, khi nắng đã lên cao là nghĩ; vì lúc ấy các lá khô của cây bông thường giòn dễ vỡ vụn, khi hái dễ bám vào những múi bông, rất tốn công nhặt, nếu nhặt không sạch thì khi khô thành sợi dệt vải sẽ có nhiều lấm tấm đen, làm tấm vải không đẹp. Bông hái về được đổ vào các nốống to, đem phơi nắng vài ba hôm. Khi hạt khô cứng thì đem đi cán tách bông và hạt ra gọi là cạt bông. Những hạt loại tốt được chọn thì đem phơi khô và cho vào chum cất giữ để làm giống cho vụ sau. Còn bông được đem đánh tơi và xe con cúi. Đánh tơi bông (còn gọi là bắt bông) bằng dụng cụ là cung gỗ (dài khoảng 1,5 - 2m). Người ta buộc một sợi dây bằng tơ to như chiếc đũa, căng hai đầu cung để bắn bông. Bông cán xong được đưa vào cung, rồi dùng đùi bật vào dây làm cho bông bị bắn tung lên và tơi ra. Khi xe con cúi, thì dùng một miếng gỗ ván đè lên bông, bông được trải đều trên một mảnh ván (6 x 30cm). Người ta dùng một chiếc đũa đặt lên mặt bông rồi dùng tay lăn đều theo chiều dài hình chiếc đũa, bông sẽ được xe thành hình con cúi (dài khoảng 30cm), to bằng ngón tay giữa, sau đó đem con cúi kéo thành sợi. Xa (xe) để kéo sợi gồm một khung bằng tre (gồm 2 vòng tre, nối kết bằng mây cho rộng) đính vào một tay quay. Từ vòng có một sợi dây (giống dây curoa) nối cùng với mặt cánh buồm, trên buồm có một trục hình tròn để quay. Trên trục quay có một kim to bằng sắt, một đầu kim hơi nhọn gọi là mũi quay. Khi quay, vành dây làm trục chuyển động, các mũi quay cũng được quay theo. Người ngồi vào cạnh xa, tay phải quay, tay trái lấy con cúi quấn vào kim rồi vừa quay vừa kéo dài con cúi cho thành sợi và phải đưa con cúi vào nhanh, đều vào mũi quay thì sợi mới nhỏ đều và săn. Đây là công việc suốt năm dành cho phụ nữ, người già. Có thể kéo sợi suốt cả ngày: sáng, trưa, chiều, tối hoặc vào những lúc nông nhàn rảnh rỗi việc đồng áng. Tiếp theo là công việc giằng sợi. Sợi bông được quấn vào một cái giằng. Giằng là một cọc tre nhỏ, hai đầu được dính hai thanh tre theo hai phương vuông góc với nhau, lấy sợi quấn từ thanh tre bên trên xuống thanh tre bên dưới thành từng cuộn gọi là giằng sôi. Các cuộn sợi được ngâm trong nước lạnh (có thể ở các ao hồ trong vườn) độ 2 ngày đêm; khi sợi chua thì vớt ra, giẫm cho hết nước. Chờ cho cuộn sợi ráo khô, bỏ sợi vào cái nong làm bằng gỗ, to khoảng bằng cái nia, xung quanh có gờ ở giữa hơi lún xuống.. Dùng cơm trộn lẫn vào sợi, lấy chân đạp nhào nặn, như đạp lúa... bao giờ cơm chảy thành nước, không còn hạt nào bám vào sợi nữa thì dừng lại. Việc bỏ cơm vào sợi để dẫm đạp gọi là “hồ sợi”, mục đích là làm cho sợi vải thêm bền. Sau đó tiếp tục phơi nắng trên các rào tre, nếu gặp nắng to chỉ cần vài ba tiếng đồng hồ là được. Trong quá trình phơi, thỉnh thoảng phải dùng roi tre đập vào các sợi để cho các sợi rủ ra (tách các sợi không dính kết). Khi sợi khô đem quay vào ống để đưa vào dệt. Khung dệt hay gọi là khung cửi được làm bằng gỗ, gồm một khung hình chữ nhật có chiều dài 1,6m đến 1,8m, đầu cùng là một cái hoa cuốn sợi. Cái hoa là một đoạn gỗ tròn dài bằng chiều ngang của khung cửi, hai đầu có chéo 3 đoạn gỗ hình cạnh khế để cuốn sợi. Sợi từ hoa được đưa lên một cái giông (thanh ngang bằng gỗ) cao hơn hoa khoảng 80 phân để rải sợi ra cho rộng và đều. Sợi từ giông được xâu qua hai cái go làm bằng sợi vải và một cái khuôn làm bằng gỗ trảy. Cứ hai sợi thì xâu vào một cái khe hở; phía trên cao, cách mặt đất khoảng 1,5 - 1,8m có hai con ác làm bằng gỗ hình con chim. Từ hai con ác có 6 sợi dây dài nối với hai go và khuôn chạy dài xuống bàn đạp đặt dưới đất. Dưới cùng khung cửi là một trục tròn để cuốn vải vừa dệt được. Bên dưới trục là một mảnh gỗ làm ghế cho thợ dệt ngồi. Khi dệt, người thợ dùng hai chân dẫm vào bàn đạp để điều khiển hai cái go lên xuống, làm cho hai sợi dọc (trong từng khe) tách nhau ra một khỏang từ 5 - 6cm. Người thợ dùng tay gieo thoi qua kẽ hở giữa hai sợi dọc để đưa sợi ngang trở đi trở lại. Thoi là một vật làm bằng sừng dài từ 2 - 5dm, hai đầu hơi nhọn, giữa khoét một hình bầu dục, trong lỗ có một sợi que cắn sót quấn sợi ngang; ở hai bên thoi có xâu lỗ cho sợi chạy ra. Khi dệt, hai tay phải và trái liên tục ném thoi qua lại cho sợi ngang chạy không ngừng. Cứ một lần tay gieo thoi thì chân cũng dẫm một lần, điều khiển go đan sợi ngang vào sợi dọc như đan lóng mốt, cái khuôn chạy lên xuống để đưa sợi ngang cho thẳng hàng và chặt, khi vải được dệt nhiều thì cuốn vào trục ở dưới. Trong quá trình dệt, người thợ thỉnh thoảng dùng que đẩy cái hoa để cho sợi dọc tháo dần xuống khung. Nhìn một người thợ dệt sành sỏi gieo thoi thì sẽ không thấy rõ hình con thoi vì tốc độ nhanh. Một người thợ trung bình một ngày dệt được 5 - 10 vuông vải (1); một người thợ giỏi có thể hơn thế. Ngoài công việc đồng áng thì việc trồng bông dệt vải là nghề mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho người dân làng Lập Thạch trước đây. Từ gieo hạt trồng bông đến thu hoạch, rồi từ bông kéo sợi, dệt vải, tất cả các công đoạn này đều được tận dụng từ lực lượng lao động của gia đình trong thời gian nông nhàn. Đàn ông, trẻ em thường thực hiện việc ngâm sợi, đạp sợi, hồ sợi, đánh ống... đàn bà, con gái thì móc vải và dệt trên khung cửi. Ngày trước cả làng Lập Thạch có trên 52 khung cửi khoảng trên 100 xa kéo sợi, trên 100 thợ dệt. Sản phẩm làm ra ở đây là vải trắng, gồm 2 loại: vải to (tức sợi to, thô) và vải nhỏ (tức sợi nhỏ, mịn và đều). Từ loại vải trắng, nhất là các vuông vải không được trắng màu, người ta đưa ra nhuộm đem hoặc nâu để dùng cho phù hợp với giới tính, lứa tuổi. Nhuộm đen thì dùng lá săng đem trong rừng về sắc đặc làm nước nhuộm. Sau vài lần nhúng vải, đưa dậm xuống ao bùn rồi phơi khô, giặt sạch thì sẽ cho ra màu đen vừa ý. Nhuộm nâu thì dùng vỏ gốc sim, đem ngâm trong nước chừng vài ba ngày, mủ sim tiết ra thành nâu đỏ; sau đó đưa vải nhúng vào và phơi khô vài ba lượt rồi hãm màu bằng nước chè xanh đậm thì sẽ có màu nâu đẹp, bền và không bị phai. Trong điều kiện vải vóc còn khan hiếm thời bấy giờ thì sản phẩm từ nghề dệt của làng Lập Thạch đã đáp ứng được nhu cầu tối cần thiết và rất hữu dụng đối với mỗi người dân trong vùng. Sản phẩm không chỉ cung cấp cho dân làng mà còn được đưa ra trao đổi ở các chợ Đông Hà, chợ Cùa, chợ Phiên Cam Lộ và nhiều vùng xung quanh, rất được người tiêu dùng ưa chuộng. Nghề trồng bông dệt vải gắn bó với dân làng Lập Thạch hàng mấy trăm năm. Sản phẩm vải Lập Thạch một thời có tiếng tăm và được người tiêu dùng ưa chuộng. Song giờ đây, khi kinh tế hàng hóa phát triển các loại vải vóc nội, ngoại chất lượng cao tràn ngập thị trường thì nghề trồng bông dệt vải của làng Lập Thạch không còn tồn tại nữa. Hình ảnh cô gái Lập Thạch xinh xắn, nõn nà ngồi bên khung cửi đã mất đi từ mấy chục năm nay. Nghề trồng bông dệt vải ở Lập Thạch giờ chỉ còn trong ký ức dân làng. 2. 3. Một số nghề khác 2. 3. 1. Nghề đan lát Ngày trước rất nhiều các cụ già ở trong các hộ gia đình, ngoài công việc đồng áng, trong thời gian rảnh rỗi là đan lát các dụng cụ cần thiết hàng ngày trong gia đình. Việc đan lát tuy khá phổ biến ở các làng quê, nhưng trên địa bàn Đông Hà, chưa có làng nào nghề đan lát trở thành nghề nghiệp chính. Nguyên liệu chủ yếu cho nghề đan lát là mây, tre, nứa... Tre đan thường được chọn ngay ở trong vườn, tre bao quanh đất thổ cư. Mây thường được mua ở các chợ, nhất là ở chợ phiên Cam Lộ hoặc tự khai thác ở rừng. Ngày trước, chỉ cần đi lên phía tây Đông Hà, qua khỏi làng Đại An (phường V hiện nay) là đã có thể khai thác được mây, nứa, giang... để đưa về phục vụ cho nhu cầu đan lát trong gia đình và tiêu thụ khắp các làng quê. Tre nứa là nguyên liệu chính để làm nên các sản phẩm, còn mây thì làm nguyên liệu cho các “đường nức”, “đường lận” ở miệng các sản phẩm. Tuy thế, việc chọn nguyên liệu cũng kỳ công đòi hỏi phải có trình độ và kinh nghiệm trong công việc mới tạo được sản phẩm có độ chắc, bền: “Tre già đan rổ đan sàng Tre non đan gióng cho nàng đi buôn”. Hay: “Tháng tám tre non làm nhà, tháng ba tre già làm lạt” là thế. Theo kinh nghiệm, cây tre chặt vào tháng giêng, hai để tránh mối mọt. Sau khi khai thác và đưa tre về nhà, người ta tính toán rồi chặt ra thành từng đoạn cho từng loại sản phẩm cần làm. Sau đó đem ngâm bùn, rồi đưa ra phơi, sấy, chẻ... Những công việc tuy đơn giản nhưng đòi hỏi phải khéo léo, có tay nghề. Ví như, với những chiếc vành dùng để nẹp đòi hỏi phải chẻ sao cho thật đều, vót cho thật phẳng để khi uốn tạo nên vòng tròn cân đối, hoàn hảo không bị méo hay gấp khúc. Nếu lấy tre cật (không sử dụng phần ruột tre) thì cật phải được vót mỏng, nhẳn. Tùy mỗi loại sản phẩm mà có cách đan - cạp khác nhau. Các loại rổ đựng thúng mủng thì đan “lóng hai”, rổ thưa, dần, sàng thì đan lóng mốt. Một cái rổ, rá đẹp bền do nhiều yếu tố quyết định; ấy là người vót tre, chẻ tre, người đan và cạp. Các sản phẩm đan lóng thì cần đến sự khéo léo từng đường tre, phải luôn chia ô sao cho thật đều, các mối tre chằng chịt qua lại không được mấp mô hoặc quá hở hoặc quá chặt; yêu cầu kỹ thuật này đòi hỏi cao ở những sản phẩm có lỗ nhỏ, đều, nhất là dần, sàng - những công cụ dùng để sàng, sảy lúa gạo. Xét ở từng công đoạn trong nghề đan thì cũng thấy được họ phân công lao động ngầm ở trong từng gia đình. Những sản phẩm có tính tay nghề cao, đòi hỏi một sự khéo léo mỹ thuật (lận/ tạo dáng, nức vành, đan các loại thúng có tính đo lường...) thì dường như chỉ dành cho những người lớn tuổi, chuyên nghề và có kinh nghiệm. Các công đoạn và sản phẩm bình thường (chẻ tre, vót mây, đan rổ, rá...) thì dành cho những người ít thạo việc hơn (đàn bà, trẻ em). Nghề đan lát chỉ là nghề phụ nhưng tận dụng được thời gian nông nhàn. Các ông bố trong gia đình thường truyền dạy cho con cháu các kỹ thuật, kinh nghiệm để làm ra sản phẩm phục vụ cho sinh hoạt gia đình; đồng thời, nhiều hộ còn đưa sản phẩm của mình đi tiêu thụ, trao đổi ở các chợ làng, để tăng nguồn thu nhập, đảm bảo đời sống. 2. 3. 2. Nghề đóng cối xay lúa Cối xay lúa là một vật dụng phổ biến trong gia đình người nông dân nông thôn ngày trước. Hầu như nhà nào cũng giành một góc nhà đặt ở đấy một thớt xay để chế biến lúa thành gạo ăn hàng ngày. Vì thế rất cần thiết có những người thợ chuyên về đóng cối xay. Trên địa bàn Đông Hà ngày trước có nhiều cụ đóng cối xay tên tuổi như: cụ Lê Văn Thỉ (làng Phú Lễ), cụ Nguyễn Văn Trưng (làng Lập Thạch), bác Dương Văn Thiết (làng Vân An)... Nguyên liệu chủ yếu để hoàn thành một cối xay gồm: gỗ dẻ hoặc tre già (thường chọn đoạn gần gốc) để làm dăm (hay còn gọi là răng) đóng ken dày vào hai mặt thớt để có tác dụng cạt lúa khi xay. Nứa hoặc tre bánh tẻ để làm vành và đan hình cối xay. Gỗ xoan, gỗ sầu đâu hoặc gỗ mít không mối mọt để làm chân cối xay và then ngang có tay xay. Một ít đất sét dẻo nặng có pha muối (tạo độ ẩm, không nứt hoác) để làm đáy thớt trên và dằm dăm để tạo thêm độ bền của đất. Khi đóng cối còn trộn thêm phân bò, lá bời lời, lá dâm bụt giã nhỏ trộn trong đất... Công cụ để làm cối xay gồm: dùi vồ cầm tay làm bằng gỗ táu; dao, rựa để chẻ dăm cối xay, chẻ và vót đan vành, nan lồng cối. Vài chục chiếc nêm bằng tre hoặc gỗ dẻ, gỗ lim để nêm dăm (răng) cối xay và các loại cưa, đục chàng phục vụ cho các công đọan khi đóng cối ... Quy trình đóng cối xay khá công phu, cẩn trọng. Sau khi chuẩn bị đủ nguyên liệu và có đủ các công cụ sẵn như trên, người thợ bắt tay vào thao tác nghề nghiệp. Người ta lấy gỗ táu, gỗ dẻ hoặc tre già cưa thành nhiều đoạn ngắn khoảng 12cm để chẻ dăm (răng); dùng tre bánh tẻ hoặc nứa để chẻ nan, vót nan đều để đan lồng cối, vành cối xay. Đan lồng (hình thù) cối xay thành hai thớt. Thớt dưới đặt trên chân cối xay, giữa có trụ đứng, thớt trên có then ngang, họng cối xay; giữa then ngang là một lỗ tròn và hai bên then ngang là hai tay xay. Lỗ tròn này phải đục thế nào cho cẩn thận để khi cối xay làm xong, thớt trên được đặt vào thì lỗ tròn vừa vặn trụ đứng. Giữa hai tay xay cũng có hai lỗ tròn nhỏ hơn để móc tay xay (giằng xay) vào lỗ khi xay. Dùng đất pha trộn thêm ít muối nện chặt vào hai thớt cối xay. Thớt trên phải để họng cho lúa lọt xuống. Tiếp đến dùng dăm đã chẻ sẵn đặt vào hai thớt cối xay, răng này cách răng kia khoảng 2cm tạo nên trên hai mặt thớt 8 ô có dạng hình tam giác sau khi đặt dăm vào. Đây là công đoạn đòi hỏi phải có tay nghề kỹ thuật cao. Đặt dăm phải đều, hợp lý để khi hai mặt thớt tiếp xúc nhau, trong quá trình xay lúa xuống đều, không sống (tức vỏ lóc hết) và hạt gạo còn nguyên, không nát. Dùng dùi đóng nêm (nỏ) vào giữa các hàm giăng (răng) cối xay, trước nêm thông tức để cho thông hàng (tạo các rãnh trên mặt thớt). Sau nêm chét và cuối cùng là nêm bí. Khi nêm bí, tức là răng hai thớt cối xay coi như gần hoàn thiện. Tiếp tục đặt ngữa thớt trên lên, dùng đục chàng khoét đất đã nện chặt, tạo lồng cối xay hình phểu để làm chỗ đổ lúa vào xay, dùng đất sét pha ít muối, trộn ít lá dâm bụt, phân bò đã đạp nhuyễn, trát lên xung quanh thân thớt trên, thớt dưới và vành xay. Vành xay là một vòng tre đan, uốn thành máng tròn, bện vào quanh thớt dưới để hứng gạo chảy ra trong qúa trình xay. Dưới vành xay chừa một lỗ vừa phải như cái mỏ (cửa/ miệng thoát lúa) để khi gạo đầy vành thì đùn về mỏ cho chảy xuống thúng hứng. Công việc cuối cùng là tạo giằng xay. Cấu tạo giằng xay khá đơn giản, gồm một thanh gỗ tròn (hoặc tre), một đầu lượn dáng khuỷu tay, dưới có đóng một chốt sắt để mấu vào cái lỗ ở tay xay; đầu kia gắn vào một thanh ngang, tạo tay cầm và treo lên xà nhà. Tùy theo người đứng xay cao hay thấp mà buộc dây níu giữ tay cầm cho thích hợp. Một cối xay thường cao khoảng hơn 1m, đường kính khoảng 60 - 70cm. Thời gian hoàn thành một cối xay mới với một thợ cả và một thợ phụ phải mất 2 - 3 ngày. Nếu đóng tốt, cối xay có thể sử dụng từ 8 - 10 mùa lúa. Khi sử dụng lâu ngày, những bộ phận vành xay và thớt trên thường bị hỏng. Lúc đó phải mời thợ về sửa chữa, làm lại. Ngày nay, không ai xay lúa bằng tay nên nghề đóng cối xay không còn tồn tại nhưng hình ảnh, tên tuổi của những người thợ tài ba một thời luôn gần gũi thân quen với người nông dân ở các làng quê Đông Hà. 2. 3. 3. Nghề nề Đây là nghề không phổ biến nhiều trên địa bàn Đông Hà ngày trước, nhưng hiện nay, ở nhiều làng có nhiều người thợ, tốp thợ chuyên với nghề nề, xây dựng. Một người thợ nề khi hành nghề thường có các dụng cụ như: bai (bay), thước gỗ, xoa, bê gỗ, dây dọi, dây mực chuẩn... Bay thường có ba loại chủ yếu: bay trét, bay miết và bay nhấn. To nhất là bay trét, được làm bằng gỗ hình trái tim, dài 20cm, phía cán rộng 12 - 15cm, phía mũi bay nhỏ dần để lấy được nhiều vôi vữa khi thi công. Bay miết cũng có hình trái tim nhưng nhỏ và mỏng hơn. Bay nhấn có hình chiếc lá tre dùng để nhấn khi làm chỉ nề, chỉ sân và nhấn các đường nét khi làm kép (làm thanh, gờ chỉ). Thước gồm 2 loại: Thước gỗ và thước dây. Thước gỗ có loại hình êke gọi là thước vuông dùng để đo chuẩn những chỗ góc sân, góc nhà. Thước dài dùng để xây nề những chỗ nằm ngang nằm dọc và chiều thẳng đứng. Thước dây có chỉ dẫn tắc thước, có độ tính đến từng cm để đo đạc khi xây dựng. Đivô là dụng cụ để đo mặt bằng, đó là một thỏi gỗ hình khối chữ nhật được bào nhẵn các mặt, có chiều dài khoảng 40cm, rộng 5cm, cao 3cm; một phía được chọn làm “mặt chuẩn”, ở giữa được khoét một rãnh dài chừng 8 - 10cm cách đều hai đầu cực và hai mép. Người thợ đặt vào rãnh một ống thủy tinh đựng gần đầy nước, được làm kín. Khi sử dụng, đặt đivô vào những nơi cần chuẩn mặt bằng, hễ thấy bọt nước nằm vào trung tâm đi-vô là chuẩn. Dây dọi là một sợi dây, một đầu buộc sẵn một thỏi kim loại dùng để chuẩn khi xây nề ở những chỗ cần dóng theo chiều thẳng đứng. Dây mực chuẩn là một ống chỉ ép mực, có thể kéo ra cuộn vào dùng để đo, chia các khoảng cách khi xây. Nguyên liệu (hay vật liệu) trong xây dựng gồm: cát, sạn, gạch, vôi... Cát sạn nhân dân thường tự khai thác ở sông Hiếu và sông Thạch Hãn - nơi xưa nay có trữ lượng cát, sạn lớn. Vôi mua ở các lò nung vôi như Phổ Lại (Cam An, phía bắc Đông Hà) - nơi có nghề sản xuất vôi từ vỏ hến cung cấp cho cả vùng (1). Gạch có nhiều kích cỡ nhưng phổ biến là loại gạch thẻ (nhỏ, mỏng) và gạch vồ (to, dày) được mua về từ các lò gạch trong vùng. Trên địa bàn Đông Hà trước đây, tuy rất nhiều vùng có loại đất sét rất thích hợp cho việc nung gạch, lại sẵn củi đốt lò do gần rừng, nhưng lại không có một lò gạch nào được xây dựng. Vì thế, khi xây dựng, gạch phải mua từ Triệu Phong, Hải Lăng hoặc ở Huế. Ngày trước, làm nhà hoặc sân người ta thường trộn vôi với cát theo tỷ lệ 1 - 4 để tạo hồ. Muốn nề tốt, chắc trước hết phải làm “cốt” nền nhà hoặc “cốt” sân. Cốt thường làm bằng đá, sỏi đập nhỏ, san bằng sau đó rải đều cát, đầm mịn. Khi xây, các viên gạch được kết dính bởi một lớp vôi hồ theo trình tự một lớp gạch thì một lớp vữa (2 - 3mm); dùng dây dọi để can mặt đứng, đivô để can mặt phẳng và dây chăng để can các lối gạch. Khi ghép gạch, phía dưới viên gạch được bôi một lớp hồ, ghép đến đâu dùng bay trét bỏ mạch đến đó. Với những vị trí cần làm kép, nhất là ở các công trình đình, chùa, lăng, miếu.. thì mạch hồ cần phải có độ dẻo, tính kết dính cao. Thông thường, người thợ thường dùng vôi trộn với cát mịn, lá nhớt, hoặc lá bời lời, bông cẩn, mật mía để tạo ra một hỗn hợp vữa. Khi xây các công trình này đòi hỏi người thợ cả phải có tay nghề tinh xảo và điệu nghệ. Ngày nay, khi xã hội phát triển, nhu cầu xây dựng ngày một tăng, thì nghề nề phát triển theo cả về số lượng và khối lượng công việc. Trình độ tay nghề của người thợ được nâng lên, thực hiện được nhiều công đoạn phức tạp, đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi xây dựng nhiều công trình có qui mô, kỹ thuật và kiến trúc thẩm mỹ cao trên địa bàn thị xã và các vùng trong cả nước. 2. 4. Vai trò và ý nghĩa của nghề thủ công truyền thống trong đời sống người dân Đông Hà Nghề thủ công truyền thống luôn có vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội; nhất là ở những vùng mà kinh tế nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo. Đối với một mảnh đất có nền kinh tế nông nghiệp truyền thống lạc hậu, đầy khó khăn như ở Đông Hà/ Quảng Trị thì vai trò nghề thủ công trong đời sống kinh tế, xã hội của người dân càng có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt. Người nông dân Quảng Trị trong các thời đại phong kiến trước đây phần lớn sống nhờ vào diện tích đất canh tác để sản xuất lương thực, thực phẩm là chính. Ngoài những khoản tô thuế nặng nề, họ phải trang trải biết bao nhu cầu khác của đời sống, những chỉ dựa vào nguồn lợi được mang lại từ những mảnh ruộng manh mún, khô cằn với những điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, có tiếng là “Ô châu ác địa”. Trong hoàn cảnh đó, để tồn tại và đảm bảo đời sống, người dân ở các làng quê Quảng Trị phải tìm thêm cho mình các công việc phù hợp khác, đó chính là sản xuất các nghề thủ công. Chính các nguồn thu nhập được của các nghề thủ công (cho dù chính hoặc phụ) đã góp phần cùng với sản xuất nông nghiệp khiến cho bộ mặt kinh tế, xã hội ở các làng quê đi vào thế ổn định và dần dần phát triển ngay từ buổi đầu - khi người dân mới đặt chân vào khai hoang lập nghiệp ở vùng đất này. Nhìn trên tổng thể, sản xuất nông nghiệp ở Đông Hà thế kỷ XVII - XVIII thậm chí cho đến đầu thế kỷ XX cũng chỉ đáp ứng một nhu cầu cơ bản cho người nông dân ở đây là đủ ăn; thậm chí những “tháng ba ngày 8”, những ngày giáp hạt, những năm mất mùa thì đời sống càng bấp bênh nếu như không có các nghề thủ công hỗ trợ. “Ruộng bề bề không bằng một nghề trong tay” - câu tục ngữ người xưa đúc kết đã nói lên vai trò quan trọng của nghề nghiệp đối với đời sống người nông dân. Với một phép so sánh từ thực tế của hai công việc cụ thể: làm ruộng - làm nghề? Cố nhiên, người nông dân chưa bao giờ bỏ ruộng vườn, nhưng họ vẫn đề cao tính ổn định và tầm quan trọng đặc biệt của nghề nghiệp trong đời sống kinh tế của mình. Những người nông dân ở các làng quê luôn tất bật một nắng hai sương, hễ buông tay cày cấy là quay tơ dệt vải, làm mộc, làm nề, làm rèn, đan lát... công việc luôn tay là thế mà cuộc sống vẫn thiếu thốn trăm bề. Bởi thế, các nghề thủ công tuy là phụ nhưng không thể thiếu trong những thời điểm nông nhàn và càng có ý nghĩa quan trọng trong kinh tế hộ gia đình. Đến nay, dù khá nhiều nghề nghề thủ công truyền thống bị mai một hoặc đứng trước những thử thách lớn lao do sự cạnh tranh khốc liệt của kinh tế thị trường và các phương tiện kỹ thuật hiện đại, nhưng vai trò của nghề thủ công nói chung và nghề thủ công truyền thống nói riêng vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và làm cải biến kinh tế nông thôn, góp phần thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. Với một vị trí quan trọng trong lĩnh vực kinh tế, nghề thủ công truyền thống cùng với các ngành sản xuất khác góp phần làm tăng sản phẩm xã hội, thúc đẩy tốc độ phát triển kinh tế, giải quyết việc làm, giải quyết nguồn nhân lực dư thừa ở các làng quê, giảm các tệ nạn xã hội; nhất là nguồn nhân lực nhàn rỗi có tính thời vụ ở những làng “đinh đa, điền thiểu”. Chính từ ý nghĩa kinh tế đó, khi nhìn nhận, xem xét trên khía cạnh xã hội thì đóng góp của nghề và sản phẩm thủ công mang ý nghĩa sâu sắc. Nghề rèn làng Đông Hà hàng năm đã sản xuất được hàng nghìn nông cụ sản xuất phục vụ cho nhu cầu lao động của người nông dân. Cũng như các hoạt động của nghề trồng bông, dệt vải, đan lát mây tre, đóng cối xay và những hoạt động nghề phụ khác của người nông dân ở các làng quê đã không chỉ tạo ra những sản phẩm phục vụ cho đời sống sản xuất, sinh hoạt trong nội bộ làng xã theo cơ chế tự cung tự cấp, mà còn thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp phát triển. Đồng hành trong quá trình trao đổi kết hợp với các sản phẩm nông nghiệp như lúa gạo, đậu ngô, khoai sắn, các sản phẩm thủ công đã tạo điều kiện để hình thành nên mạng lưới thương nghiệp thông qua các chợ làng, chợ huyện trên địa bàn. Mặc dù việc trao đổi, buôn bán ở các chợ quê còn mang tính cục bộ, giản đơn, chưa tạo ra được một thị trường tiêu thụ hàng hóa trên quy mô lớn, nhưng trên một phương diện nào đó, có thể nói rằng nghề thủ công truyền thống và các làng nghề là tiền đề để hình thành nên các tụ điểm kinh tế, thị trấn, thị tứ ở đây. Nhờ sản xuất phát triển, thu nhập bằng tiền ngày một tăng nên làng có nghề thủ công là một trong những nơi có điều kiện để xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng, các thiết chế văn hóa. Đồng thời do nhu cầu sản xuất, trao đổi hàng hóa đã giúp cho người dân các làng nghề thủ công có điều kiện giao lưu, tiếp thu với nền kinh tế thị trường nên sớm hình thành tư duy, lối sống đô thị hơn các làng thuần nông. Mỗi nghề, mỗi làng có nghề do tính chất và nội dung hoạt động nghề nghiệp quy định nên đều mang một sắc thái văn hoá riêng (tín ngưỡng tổ nghề, lễ hội, phường hội, phong tục, tập quán...); vừa có nét chung của văn hóa vùng/ miền/ dân tộc lại vừa có nét riêng biệt, đặc thù. Sự đa dạng của các nghề thủ công từng có mặt và tồn tại đến nay trên địa bàn Đông Hà làm cho văn hoá vùng đất này càng thêm phong phú. Trong trường kỳ lịch sử nghề thủ công luôn là bà đỡ, đòn bẩy cho sự phát triển của văn hóa. Sản phẩm thủ công là sản phẩm văn hóa, làng nghề thủ công là làng văn hóa. Sự vất vả, cực nhọc để kiếm được đồng tiền, bát gạo của những người thợ làm nghề đã hình thành nên ý thức về sự cần kiệm, quý trọng lao động, yêu lao động và nuôi chí lớn. Truyền thống yêu lao động, cần cù sáng tạo trong lao động của người nông dân được kết tinh và hàm chứa trong hạt lúa củ khoai và trong những sản phẩm thủ công ấy của mình. Tuy không có được những làng nghề truyền thống chuyên môn hoá gắn với tên đất, tên làng như ở các làng quê miền Bắc, song Đông Hà/ Quảng Trị cũng có những làng có nghề đã gắn với lịch sử vùng đất này qua một quá trình dài hàng trăm năm mà khi đi đâu về đâu hễ nhớ đến làng là nhớ đến nghề, nhớ bến nước luỹ tre là nhớ đến những sản phẩm truyền thống của làng với những kỷ niệm và tình cảm sâu lắng. Bảo tồn và phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống là làm tăng thêm sức mạnh cội nguồn, gieo vào lòng người lao động một tình cảm yêu quý, trân trọng, giữ gìn di sản và bản sắc văn hóa dân tộc, làm tăng giá trị của văn hóa truyền thống trong một thế giới đa phương tiện thông tin và đầy biến động như hiện nay. 3. Các ngành nghề khai thác, chế biến lâm - nông - thuỷ sản. 3. 1. Nghề khai thác lâm sản và sơn tràng Sơn tràng là nghề khai thác rừng theo lối thủ công. Tiều phu vào rừng đốt than, đốn củi là nghề, song nhà nông lúc nhàn rỗi vào rừng đốn củi, bứt tranh, rút mây... đi về trong buổi hoặc trong ngày thì không gọi là nghề mà chỉ là công việc phụ, mang tính nhất thời. Gọi là thợ sơn tràng thì phải có những người thợ có tay nghề, giàu kinh nghiệm, thâm niên vào rừng, từ địa phương gọi là "đi cội" (cội ở đây là cây). Thợ sơn tràng mỗi lúc vào rừng thường tổ chức thành đội, thành đoàn toán từ 5 - 7, đông thì 10 - 15 người, có nam có nữ; tất cả họ đều là người một làng nhóm họp lại mà nên. Công cụ, cơm gạo, mắm, muối, ruốc... là những vật dụng chính của mọi thành viên trong đoàn mang theo cho chuyến đi trong vòng 18 - 20 ngày, lâu nhất là một tháng. Vào đến cửa rừng, người ta dựng lán trại, lo cái việc ăn ngủ cho cả toán. Công việc chính là khai thác gỗ do đàn ông đảm nhận, phụ nữ thường được phân công ở nhà chăm sóc đàn trâu kéo, lo việc bếp núc. Tính chất tập thể ở các đội sơn tràng ngoài quan hệ họ hàng, làng mạc ra, còn yếu tố khách quan là lao động chốn rừng thiêng, nước độc tàng ẩn nhiều hiểm nguy và quan trọng hơn ở yếu tố vàn công, hợp lực sức lao động theo yêu cầu của nghề. Tuy mục tiêu của từng chuyến đi rừng là khai thác nguồn lợi lâm sản cho từng cá nhân hoặc gia đình, nhưng khi gặp một cây săng (gỗ) lớn, thì phải cố kết, hai đến ba người trong đội hợp lực lại hạ cây gỗ ấy xuống cho một người, sau đó có nghĩa vụ hoàn trả lại số công tương xứng. Vùng Đông Lương, Đông Lễ, Cam Thanh thị xã Đông Hà trong và trước thời chống Pháp còn có hàng chục đội sơn tràng của các làng Tân Vĩnh, Lai Phước, Vịnh Phước, Đại áng, Trung Chỉ, Lập Thạch, Vân An... Các đội thường vào khai thác ở những cánh rừng phía tây như Lấu, Trừ, Tèng Teng... cách xa địa vực cư trú khoảng 1 đến 2 ngày đường đi bộ. Một năm đi nhiều nhất từ 2 đến 3 chuyến. Sản phẩm và phương thức khai thác của các đội sơn tràng chủ công là gỗ; ngoài ra còn có các loại mây, giang, lá nón... Rừng ở phía tây Đông Hà trước hết nghèo nàn về chủng loại, thiếu vắng các nhóm gỗ quý hiếm, cộng với phương thức khai thác thủ công nên các đội sơn tràng năm này qua năm khác vào rừng đa phần đốn hạ được các nhóm gỗ loại hai loại ba như Trâm, Sến, Vang, Lèo heo, Thạch chũa, Chũa trường; thi thoảng mới trúng được loại gỗ hiếm như Gõ, Lim. Cây to nhất đường kính từ 60 - 80cm nhưng do sức kéo, cây to thì phải cưa ngắn lại, khúc gỗ dài hết cỡ từ 3,5 - 4m gọi là trường 5, trường 6, trường 7, trường 8... đúng độ dài khi đưa vào sử dụng. Tuỳ chuyến đi, có chuyến người được 2 - 3 - 5 súc gỗ; có súc cưa được 8 - 10 cùi đòn tay hoặc cưa rui, xẻ ván; có súc sử dụng vào việc làm kèo, cột nhà. Công cụ của người thợ sơn tràng thật đơn giản. Ngoài cây rựa, họ có rìu và cưa. Rìu có rìu cốt, lưỡi to dùng để đốn hạ cây và rìu me, lưỡi xoắn, tra vào đầu cán gỗ như cuốc chét dùng để mổ bịn. Bịn là cái lỗ hốc mắt đầu mỗi súc gỗ, nơi người ta buộc dây vào cho trâu kéo đi. Dây kéo được lấy từ các loại dây bò trên mặt đất, có nhiều ở rừng, thân dẽo bền như dây Đắng, dây Trường, dây Bụ, dây Dong, dây Ướm... Người thợ sơn tràng chỉ cần chặt khúc, chún hai đầu, cột vào hai cống dù buộc ở cổ trâu và vào lỗ bịn cây săng rồi cho trâu kéo gỗ tập kết ra bến, chở bằng đò hay kéo thẳng về nhà. Người thợ sơn tràng hạ gỗ bằng rìu cốt, nhưng cưa thì bằng cưa lếu. Đó là loại cưa có cán hình cong uốn bằng tre hoặc mây; lưỡi cưa sắt hẹp bản, răng cưa thưa, lưỡi cưa dài một sải tay (chừng 1 - 1,2m). Tuỳ thế cây gỗ lúc cần hạ, người thợ dùng rìu, dùng cưa hoặc phối hợp cả hai loại dụng cụ chủ yếu này. Cuối cùng là con trâu kéo. Đây được coi là "công cụ sống" (theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng) của người thợ sơn tràng. Không có trâu kéo, người thợ sơn tràng không thể vào rừng khai thác được, đơn giản là trâu kéo không có thời giờ vàn công. Với người thợ sơn tràng tiêu chuẩn con trâu kéo về giống phải là trâu đực, trâu nổi, khôn ngoan như con "trâu chiến". Kinh nghiệm, kỷ luật và kỹ thuật kéo của con trâu kéo thực thụ có thể phân biệt với con trâu thường như sau: Khi kéo súc gỗ lên dốc đuối sức vì thế đi hiểm trở, người thợ sơn tràng hô quỳ là con trâu kéo quỳ, nhuần nhuỵ, bài bản. Con trâu kéo quỳ là để rán sức, bò xuống mà kéo súc gỗ lên dốc. Đuối sức, lực bất tòng tâm, nó vẫn là con vật vô cùng khôn ngoan, trung thành với chủ bằng cách móc cái sừng của mình vào gốc cây bất kỳ nào bên vệ đường, nghỉ lấy sức chừng năm đến mười phút rồi kéo tiếp. Trong những tình thế nguy kịch hoặc cam go như vậy, những người thợ sơn tràng hợp lực, động viên con trâu kéo của mình bằng lối hò nện. Hò nện là nện đòn xeo xuống đất cái "địn"- rập ràng: "Lên dốc thì bấm cổ cờ (ơ hơ hơ... nì !). Nghe giọng anh hò thì gắng cổ kéo lên nì !.." Con trâu kéo nghe hò nện thì giật kéo lên càng hăng, trong khi những đôi nam nữ trong nhiều tốp sơn tràng không phải là những người chủ chốt chỉ huy trâu kéo thì có những câu hò vừa trợ lực, vừa trêu ghẹo lẫn nhau, thật sự là ngang tàng, đáo để. (Ví như: Nữ: "Thuyền em mũi đó lái hồng lê/ Hai bên hai con mạn giữa đề tên anh". Nam: "Thuyền em mũi đó lái hồng lê/ Hai bên hai con mạn giữa để cái quan tài cha em..."). Đêm xuống, những con trâu kéo thường nằm một cụm chụm đít vào nhau, sừng trâu (đầu) chĩa ra ngoài, lúc ngủ tư thế chúng cũng đã biết cảnh giác, sẵn sàng tấn công lại chúa sơn lâm, tức là các “ông 30”... Nghề sơn tràng xưa có cúng cửa rừng, không nghe ai nhắc đến tổ nghề. Nay thì do nhiều biến động xã hội, chủ yếu là nguồn tài nguyên rừng cạn kiệt và rừng đã được nhà nước cùng nhân dân quản lý theo phương thức mới. Vì thế, hơn nửa thế kỷ qua, ở Đông Hà không có đội sơn tràng nào vào rừng khai thác gỗ. Tuy vậy trước đó nghề sơn tràng từng có một vai trò và ý nghĩa vô cùng to lớn trong đời sống của cư dân Đông Hà. Từ nguyên vật liệu khai thác được từ rừng (chủ yếu là gỗ) do các đội sơn tràng, qua bàn tay những người thợ thủ công mà chủ yếu là nghề mộc đã tạo nên nhiều sản phẩm đặc trưng, đáp ứng phần lớn nhu cầu thiết yếu trong mỗi gia đình và cộng đồng làng xã. Những sản phẩm đan lát như rổ rá, giần sàng, thúng mủng, cối xay, triêng, trạc, tơi, nón... ngoài nguyên liệu tre nứa ra, người ta rất cần đến mây lấy từ rừng về. Gỗ lấy từ rừng về được chế tác ra nhiều công cụ, đồ dùng phục vụ người dân như cán rìu, cán rựa, cày, bừa, chày cối, tủ, sập, phản, bàn ghế... đến khung nhà Rường, nhà Rội. Ngày nay, người nông dân đã thay thế nhiều nông cụ thủ công bằng các loại máy cơ khí sử dụng bằng kim loại, thay vật liệu xây dựng bằng bê tông cốt thép, nhưng không thể thiếu các nguyên vật liệu lấy từ rừng. Tuy nhiên, khai thác rừng ngày nay phải gắn với trồng và bảo vệ rừng một cách có kế hoạch, định hướng và bền vững. 3. 2. Nghề cào hến Hoạt động khai thác nguồn lợi thuỷ sản trên địa bàn thị xã Đông Hà từ xưa đến nay có một nghề tiêu biểu là nghề cào hến. Hoạt động của nghề này chỉ tập trung ở các làng nằm bên bờ sông Thạch Hãn và sông Hiếu. Nghề cào hến gắn với môi trường sông nước - nơi mà loài hến sinh sống. Vì thế, sản phẩm của nghề này là những con hến bắt được từ dưới lòng sông. Loài hến chỉ xuất hiện ở vùng có nước lợ, hạ lưu những khúc sông sắp đổ ra biển, giao thoa, chịu tác động cuả mực nước biển lúc thủy triều dâng. Hàng năm, trên các con sông Thạch Hãn, Hiếu chảy qua địa phận Đông Hà, môi trường nước lợ chỉ tồn tại từ 8 - 9 tháng trong mùa khô; khi mùa mưa đến, nước lũ về lai láng, bão lụt thường xuyên thì tất cả những khúc sông vừa kể trên bị xoá mất đi môi trường nước lợ để loài hến có thể sinh sôi, nảy nở. Các làng có nghề cào hến trên sông Thạch Hãn như: Vĩnh Phước, Đại áng, Lập Thạch, Vân An (và Phường Hến, Trà Liên, An Lợi, Trung Yên của Triệu Phong). Các làng có nghề cào hến trên sông Hiếu như: Đông Hà, Điếu Ngao, Lạng Phước (và Giang Hến của Triệu Phong, Mai Xá của Do Linh). Với nghề cào hến, chính môi trường tự nhiên đã đưa đến cho con người nghề nghiệp chứ chưa hẳn họ tự định đoạt. Ngay ở một làng (ví như Vĩnh Phước, Đại áng, Trung Chỉ, Lập Thạch, Vân An...) xóm dưới là xóm sông thì có nghề cào hến, xóm trên là xóm rú, không ai xuống sông cào hến bao giờ. Những ngôi làng kể trên cùng chung một đặc điểm đều là những ngôi làng thuần nông. Tiếng là thuần nông nhưng trước đây, đồng ruộng chỉ làm một vụ lúa nước (Đông xuân), lúa vại/ trỉa (Hè thu); năng suất thu hoạch thấp. Đa phần nông dân thiếu đói không chỉ giáp hạt mà đói quanh năm. Cho nên ngoài công việc đồng áng tất bật một nắng hai sương theo mùa vụ trên mỗi cánh đồng, họ phải đi ra khỏi cổng làng theo các lối: lên rừng bứt tranh, đốn củi, đẵn gỗ dài ngày như thợ sơn tràng; chạy chợ làng, chợ huyện kiếm thêm cái ăn; đan lát nong nia, thúng mủng; ra sông bắt cá, mò cua, cào hến... Làm nghề nông ở Quảng Trị muốn đủ cái ăn thì không thể không xoay xở để làm thêm nghề phụ khác và chẳng có làng nào quanh năm làm mỗi một nghề độc nhất. Nghề cào hến ban đầu là nghề phụ, nhưng khi sản phẩm làm ra đáp ứng thừa thải trong gia đình, thôn xóm, họ bán ra ở các chợ Hôm, chợ Mai khắp các địa phương trong vùng và ở các chợ trung tâm thì cũng tức là đã chiếm lĩnh được thị trường đô thị và ven đô, làm cho các làng có nghề cào hến được nhiều người biết đến; từ đó được xem là làng nghề. Mặt khác, do tác động từ nhiều phía, cũng như sự biến đổi về nghề nghiệp và cuộc sống nội tại của mỗi cộng đồng làng xã nên các làng làm nghề cào hến hiện còn không nhiều. Trong đó, đáng kể là các làng ở phường Đông Lễ, Đông Giang; điển hình là làng Mai Xá (cách Đông Hà chừng 5km) - nơi hàng năm cung cấp một số lượng lớn hến và chắt chắt cho thị trường Đông Hà. Thao tác và sản phẩm nghề cào hến có thể mô tả khái quát như sau: Hến là loại động vật thân mềm, vỏ mỏng, tròn dẹp, gồm hai mảnh khép mở, sống ở môi trường nước lợ dưới đáy sông, lẫn lộn với ốc gạo, ốc quắn... Hình thức giống ngao sống ở đầm phá nước ngọt nhưng cỡ kích thì hến nhỏ hơn nhiều. Cũng sinh sống ở môi trường nước lợ nhưng người dân Quảng Trị có phân biệt một loại tên gọi là chắt chắt, kích cỡ liu tiu bằng phân nửa hoặc phần ba thân hến, sinh sôi nảy nở tập trung ở những bãi cát dưới đáy sông, có nước chảy xiết, ít lắng đọng bùn. Chưa rõ nguồn gốc tên gọi chắt chắt này nhưng để có một nồi canh chắt chắt, phải tích góp nhiều cá thể nhỏ nhoi theo nghĩa "chắt chiu", hoặc chắt là chiết, lấy riêng ra phần chất lỏng là nước sau khi đun nấu và chất đặc là cái (tiếng địa phương gọi mặt chắt chắt) theo kiểu chế biến chăng? Chỉ biết giữa hai loại này, giá cả theo mùa giữa thị trường chẳng chênh nhau là mấy, nhưng khi chế biến thì chắt chắt ngọt ngào hơn, được người tiêu dùng ưa chuộng hơn hến. Theo lối tự cung tự cấp, tức để kiếm đủ mớ hến nấu ngọt nồi canh cho mỗi gia đình trong mỗi ngày, người lớn cũng như trẻ con ra ngay ở bến sông của mình dùng rá, hoặc rổ để xúc, đãi riêng từng mẻ cho cát và bùn trôi đi, còn lại hến. Phương tiện đánh bắt chuyên nghề hơn thì có cái cào để cào. Như vậy về mặt thao tác giữa xúc và cào khác biệt nhau về quy mô. Cào là đồ nghề chuyên dụng, được đan bằng tre (tợ cái dũi cá trên đồng), có gắn chiếc cán bằng tre dùng tay để cào thì gọi là cào cạy, có gắn thêm sợi dây mây kéo phụ quàng ngang qua lưng thì gọi là cào lưng, thường dùng cho phụ nữ. Với công cụ này thì cào cạy hay cào lưng đều phải kéo giật lùi, ngược dòng nước chảy, lúc thuỷ triều rút họ cào ngược lên và khi thuỷ triều dâng họ quay ngược lại. ở độ sâu từ 0,5m - 1,5m, trên những khúc sông nước xanh leo lẻo chảy qua miền đất dốc hẹp nghèo khó phù sa này, những người có "nghề" sẽ chọn đúng chỗ chắt chắt quần tụ, sinh sôi nảy nở. Đặt cây cào xuống đáy cát rồi đẩy, cát lọt qua kẻ hở của cào nhờ con nước chảy, con hến vướng lại trong cào, tích cóp từng mẻ, năm đến bảy lạng, có khi cả cân, đổ lên chiếc thuyền nan (nôốc, tròng hoặc ghe). Cào hến chuyên nghiệp như ở làng Mai Xá có đến cả ngàn lao động, hoạt động trên một địa bàn khá rộng từ bến đò Việt Yên lên đến ngã ba Gia Độ; từng tốp từ 3 - 5 người, họ theo con nước, theo chiếc thuyền nan, tính ra có ngày vòng đi của họ gần 15 cây số, phó mặc cho trên đầu mưa phùn gió bấc hay gió Lào nắng nóng cháy da, cháy tóc. Cào hến là nghề làm việc trong môi trường khắc nghiệt, nếu không thích nghi rất dễ cảm hàn, cảm lạnh: "Như tui ông Sịch làng ta/ Mò cua, xúc hến sớm trưa dưới rào (sông)/ Nửa người khô nắng nhức đầu/ Nửa người ướt át lạnh vào thấu xương...". Để cung cấp mặt hàng chắt chắt cho thị trường rộng lớn Đông Hà, Hướng Hoá, Lao Bảo..., hàng năm các làng có nghề cào hến bán ra hàng trăm tấn vỏ hến cho các cơ sở tôi vôi. Thu nhập của người lao động cào hến không cao, vụ Xuân hè gấp đôi Thu đông, bình quân lao động mỗi ngày từ 20 - 30 ngàn đồng. Thế mới biết cái con chắt chắt tí tẹo ấy đã làm ngọt "biết bao bát canh rau góc vườn, nuôi lớn bao nhiêu phận người và dìu dắt bao nhiêu phận làng qua bao mùa mưa nắng đói khổ". Những làng cung cấp hến ra thị trường với khối lượng lớn thường đem hến/ chắt chắt nấu lên, sau đó đem đãi để tách ruột hến/ chắt chắt ra khỏi vỏ rồi đem nước cùng ruột hến/ chắt chắt ra chợ bán, còn vỏ thì để lại dùng nấu vôi hàu. Ngoài ra mặt hến còn là nguồn thức ăn tuyệt hảo phục vụ cho việc nuôi tôm. Từ lâu người ta ta đã đổ hến con cho đàn vịt đẻ trứng ăn, đó cũng là nguồn thực phẩm rất hiệu quả. Nấu hến/ chắt chắt thường đun bằng lá chuối khô, ngọn lửa cháy đều và đượm, bốc hơn lửa rơm không bị tro tàn. Phụ nữ các làng toả ra các chợ bán xong gánh hến, sục vào vườn chuối các làng lân cận xin cắt tỉa các ngọn lá chuối khô chất thành gánh đưa về nhà, để tờ mờ sáng - vì đây là quảng lặng gió trong ngày (gió phơn Tây nam, còn gọi là gió Lào ngừng hẵn hoạt động), họ nhóm ngọn lửa lên ngoài sân, nấu hến. Vì thế đầu sân cuối xóm, cả vệt làng nghề hến men sông rực rỡ, nhấp nhô những vệt lửa hồng. Điều đáng tiếc là từ sau khi công trình Đại thuỷ nông Nam Thạch Hãn xây dựng, con sông Thạch Hãn bị chặn dòng ở bến Trấm đầu nguồn, sông đã cạn nguồn vào mùa khô, nên nhiều làng bỏ nghề cào hến. Đến như ngôi làng chuyên nghề cào/ chế biến hến - làng Phường Hến - nay không còn rộn rịp như trước và nghề nung vôi từ lâu cũng không duy trì được nữa. Ngoài ra, còn một nguồn lợi thuỷ sản khác gắn liền với cư dân làm nghề trên sông nước, người đời quen gọi là "vạn đò" hay "vạn chài". Địa bàn thị xã Đông Hà về cơ bản từ trước đến nay có một 2 làng vạn chài như thế neo đậu trên sông Hiếu là vạn Đông Hà và vạn Trọng Đức. Cả gia đình sống trên một con thuyền, quanh năm bủa lưới, thả câu... nhưng nguồn lợi đem lại từ đời này sang đời khác của cái nghề chài lưới là không đáng kể. Mớ cá, mớ tôm, mớ tép... đánh bắt được trong ngày, qua đêm không đủ để đổi lấy lương thực và những nhu yếu phẩm cần thiết khác cho gia đình. Người dân ở vạn chài từ bao đời nay phải đối mặt với nhiều vấn nạn: thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu thuốc men lúc đau ốm, con cái không được đến trường... Ngày nay, các vạn chài đã được định cư. Chính quyền thị xã đã thực hiện đồng bộ nhiều chính sách, từ mô hình nuôi trồng thuỷ sản trên sông nước, đến trang bị kiến thức, ưu đãi tài chính... để họ tiến kịp với trào lưu chung trong xã hội hiện đại. 3. 3. Nghề chế biến nông sản Những nghề chế biến nông sản ở thị xã Đông Hà tuy nhiều song không được nổi bật như ở các làng nghề truyền thống trong tỉnh. Đông Hà, xét cho cùng vẫn là thị trường tiêu thụ sản phẩm hơn là chế biến vì có nhiều làng nghề vùng ven hoặc phụ cận làm bệ phóng. Ví dụ, nghề làm bún có làng bún Cẩm Thạch nằm ở phía bắc cầu Đông Hà, trước đây cung cấp cho chợ Sòng tương đối sầm uất, trong dân gian quen gọi bún Sòng nhằm phân biệt với bún Huế, nay chủ yếu là cung cấp cho chợ Đông Hà. Ngoài 100% số hộ ở làng Cẩm Thạch làm bún, thì một số gia đình ở làng Kim Đâu, Phổ Lại, Đông Hà... do học được nghề từ làng Cẩm Thạch cũng phát triển nghề làm bún. Điều đó chứng tỏ, sản phẩm chế biến từ nông sản đa dạng đến đâu cũng dễ dàng học hỏi kỹ thuật, kinh nghiệm để hành nghề, đáp ứng với điều kiện, hoàn cảnh nơi mình sinh sống. Tương tự, rượu đế ở các làng quê nay thuộc thị xã Đông Hà ai cũng nấu được tuy không được đặc trưng, thơm ngon, đặc sản như rượu làng Kim Long. 3. 3. 1. Nghề làm bún Phải nói rằng nghề làm bún đa công, khó làm nhưng bù lại vốn liếng, dụng cụ nghề đơn giản, nguyên liệu chế biến chủ yếu là gạo và bột sắn có sẵn trên địa bàn nên ai cũng có thể làm, miễn là có thị trường tiêu thụ. Quy trình chế biến lắm công phu, làm ra bún thì dễ nhưng để có bún ngon, thực khách ưa chuộng thì không đơn giản chút nào. Bí quyết nghề tỏ ra khắt khe, xem ra cứ phải bằng phương pháp thủ công, sản phẩm làm ra mới đắc địa. Trước hết để bún làm ra trắng phau và thơm phải chọn loại gạo thích ứng. Xưa kia có gạo tám thơm, nay có các loại như nông nghiệp 2, MTL61. Qui trình có thể tóm tắt qua mấy từ địa phương sau là: ngâm - chà - xáy - vặn. Gạo được vút thật kỹ ngâm từ 1 - 2 giờ trong nước thì đổ ra cho ráo. Rải ra ủ gạo cho mềm (người làm bún gọi giậy lên) tức độ vữa mềm vừa phải, để hôm sau sú nước vào có thể dùng tay chà ra thành bột sống. Lõi gạo chà tay không tơi ra (gọi là trắt) đưa vào cối giã; tất cả đều lọc qua bao vải hoặc lưới mịn, bả gạo được loại ra, cùng với nước vút gạo để nuôi lợn. Bột nước gạo sống này người ta cho vào bao vải đặt trên bệ, quành bó lại bằng khoanh sáo tre, đằn hòn đá to lên để ép qua đêm, sau khoảng 8 giờ thì thải hết nước chua, bột ráo nước, thành cục bột gạo y hệt bột lọc (sắn). Để làm ra bún phải qua ngày thứ tư, người ta xắn cục bột ra thành từng cục nhỏ, thả vào chảo nước sôi nấu chín chừng 10 - 15 phút, vớt ra đưa vào cối giã quết với bột sống theo tỉ lệ thích hợp. Công đoạn này gọi là xáy. Để có độ dẻo, tạo sự liên kết, ngoài bột gạo ra người ta lèn vào 1/5 nguyên liệu nữa là bột lọc giã quết và nhồi nhuyễn bằng tay cho thành bột lỏng. Đây là công đoạn cực nhọc nhất trong nghề làm bún. Bột xáy tới đâu chêm thêm nước vào cho có độ dẻo vừa lỏng để vặn qua khuôn. Khuôn là một cái túi vải có miệng và túm đáy lại bằng miếng kim loại hình tròn đường kính 12 - 15 cm, chui lỗ đều đặn (xưa làm bằng đồng nay nhôm hoặc inok tránh rét rỉ). Vặn là khâu công việc cuối cùng, bao giờ cũng dành cho người thợ lành nghề. Đó là đưa bột lỏng vào khuôn ép để bột chảy xuống chảo nước sôi chín đặc lại thành sợi bún. Việc ép thế nào để bún đều con, có độ chín vừa phải, sắp xếp theo ý muốn không bị đứt gãy, người thợ phải có thời gian dài tập luyện mới thành thục. Đây là kỹ nghệ, gần như bí quyết nghề vì các lò bún ngày xưa, sau khi vặn ra sợi bún, người ta xếp thành hai loại sản phẩm đặc trưng là bún lá (rải đều và chồng xoắn lên nhau từng tệp như lớp lá) và bún con (bện lại thành con như bện tóc). Một mặt là thay cân (thời chưa có cân) để làm đơn vị giá trong quá trình mua bán trao đổi; mặt khác quan trọng hơn là chính mẫu mã này đã là thương hiệu sản phẩm (chứ không như bây giờ rặt mỗi một loại bún rời, cho vào bịch ni lông cân lên bán là xong). Những người mới vào nghề thường vấp phải những mẻ bún có màu vàng, không được trắng trẻo đẹp mắt hoặc sợi bún bị gãy... vì chưa có kinh nghiệm qua các khâu: quết bột chưa đủ độ nhuyễn, vặn bún không đều tay, ủ gạo... Nghề làm bún xét cho cùng vẫn có bí quyết, ngoài việc khéo tay, cần mẫn, chịu khó người thợ còn phải mẫn cảm. Để một lò bún hoạt động đều đặn, ngày nào cũng có một mẻ bún nóng xuất lò thì phải gối đầu liên tục sáu mẻ, và như vậy, công việc ở các công đoạn bắt buộc phải làm trong ngày chồng chéo lên nhau, làm không xuể. Dù vậy, trước đây, một người con gái lấy chồng rồi ra ở riêng, chỉ cần có vốn là mấy thúng lúa, mỗi ngày xáo bún chừng 30 lon gạo, gánh đi bán rong cũng đủ có gạo về ăn; chăn nuôi dành dụm cũng dựng được nhà cửa, gây được cơ nghiệp. Ngày nay, người làm bún không còn phải vất vả như trước đây nữa, bởi các dụng cụ thủ công tiêu tốn nhiều thời gian công sức đã được thay thế bằng máy móc như máy xay, máy đánh bột bằng điện, máy bơm nước. Bằng vào loại cối cải tiến này, người ta giảm được công việc nặng nhọc ở hai khâu là chà và xáy, cho phép sản xuất ra khối lượng hàng hoá lớn theo nhu cầu thị trường. Ngay cả việc cải tiến lò bệ cũng đã giảm đi một nửa chi phí chất đốt. Thu nhập bình quân một người trên cả triệu đồng mỗi tháng chưa kể nguồn thu từ chăn nuôi lợn. Đời sống ổn định, xoá được đói, giảm được nghèo. Tuy nhiên, trong quá trình đô thị hoá, nghề bún chỉ phù hợp với môi trường nông thôn. Nhưng ngay ở môi trường này cũng phải có biện pháp xử lý tốt vấn đề vệ sinh môi trường, tránh nguy cơ ô nhiễm. 3. 3. 2. Nghề bánh ướt, bánh tráng Cũng như nghề làm bún, nghề làm bánh ướt, bánh tráng là một nghề khá không kém phần công phu. Đây là một nghề tất bật và lam lũ của người phụ nữ. Bánh ướt không chỉ đa công mà còn khó làm, nhưng bù lại dụng cụ nghề đơn giản hơn nghề làm bún, nguyên liệu chế biến mỗi một thứ là gạo nên ai cũng có thể làm, miễn có tay nghề và tìm được thị trường tiêu thụ. Tuy nhiên, để làm được bánh ướt ngon không dễ. Thương phẩm phải đạt các yêu cầu: trắng, mỏng, dai, dẻo; nhưng khi ăn phải mềm và "bắt" từng con bánh, hoặc cuốn không dính tay. Bí quyết trong nghề bánh ướt từ lò lớn đến lò nhỏ chỉ thực hiện theo nguyên tắc mẹ truyền con gái rồi cứ thế mà lan ra. Trước hết để có bánh ướt ngon, người thợ trữ gạo tám thơm, gạo bát Hải Lăng (nguyên liệu bánh ướt) và gạo đỏ, gạo de để làm bánh tráng. Qui trình cả hai loại bánh này có thể tóm tắt qua mấy thao tác: ngâm, xay, tráng, bán. Ngâm gạo rồi xay là thao tác cổ truyền; ngày nay người ta vút gạo xong dùng máy để xay ngay, có bột để tráng kịp thời đưa đi bán. Nhưng riêng bánh ướt cứ phải trình tự theo phương pháp cổ truyền, sản phẩm làm ra mới được khách hàng ưa chuộng. Bản thân hạt gạo tám thơm, gạo bát Hải Lăng hay bây giờ các giống lúa mới, hạt gạo trắng trong, sau khi xay giã, vút kỷ, đổ ra vại ngâm khoảng hai đến ba tiếng đồng hồ. Khi ngâm có hoà chút vôi vào, vớt gạo ra, ủ để bột giậy, dùng tay chà xát để thành bột sống. Bột gạo chà bằng tay hoặc giã bằng cối (bây giờ xay máy) được lọc lại qua túi vải hoặc lưới mịn, tra vào chút bàng-sa, tăng độ ráo và giòn của bánh. Bã gạo cùng với nồi nước sôi hông bánh xong, nấu lên là nguồn thức ăn để nuôi lợn. Có nước bột gạo rồi (thực ra là hồ), người thợ bắc nồi nước lên, tráng bánh. Nồi nước hông toả hơi nóng lên nghi ngút, qua vuông vải màn đậy trên nắp nồi. Từng vá hồ (ngày xưa gáo dừa) vừa đổ vừa chậy tròn ra trên lớp vải, úp vung lại vài giây, bánh chín lấy ra từng chiếc, chồng thành chồng. Tệp hay chồng bánh ướt dày một gang tay (18 - 20 cm), đường kính chiếc bánh cũng 20 cm, khoảng từ 110 - 120 cái đều rắt. Giữa mỗi chiếc bánh khi chồng lên được thoa chút dầu đậu phôộng khi bánh còn nóng nên khi nguội, mỗi chiếc bánh mềm và mỏng tanh như tờ giấy vẫn có lớp ngăn cách, bóc tách ra được. Công việc làm bánh ướt đến đây đã xong, chỉ còn xếp vào thúng, rổ chở đi tiêu thụ, càng nóng càng ngon, bánh không để được lâu, không quá ba ngày. Cũng cùng loại bột gạo làm bánh ướt này, người thợ trải ra trên liếp tre, phơi khô, xếp lại thành tệp thành loại bánh tráng mỏng còn gọi là bánh tráng nem, dùng để cuộn rau sống cùng nem lụi chấm nước lèo; cuộn rau sống với cá hấp... không cần nướng lên. Tương tự bằng loại gạo de, gạo đỏ, xay bột ra trộn vào ít mè, tráng to và dày hơn (đường kính 30-35 cm, độ dày gấp 10 lần bánh tráng mỏng) bỏ lên liếp tre phơi khô, xếp thành từng tá (12 cái bánh) gọi là bánh tráng dày (bánh đa). Bánh tráng dày có nhiều loại, bánh chay (không bỏ muối), bánh mặn (cho muối vào) hay bánh tráng dừa (nạo cơm và nước dừa cho vào)... khi ăn hoặc nướng lên, hoặc nhúng nước. Một gạo hai bánh ướt, giá bán rẻ bao đời nay biến động theo giá gạo trên từng buổi chợ và bánh tráng các loại cũng vậy, đó là giá trị ngày công của người thợ làm nghề bánh ướt. Đặc sản bánh ướt thịt heo chính là thành quả tổng hợp, từ khâu sản xuất, tiêu thụ đến chăn nuôi của nghề bánh ướt truyền thống này. Dù thu nhập không phải là cao, nhưng lấy công làm lãi, nghề bánh cũng nuôi sống được nhiều gia đình bao đời nay đến cư trú trên vùng đất Đông Hà, như mọi vùng quê khác. Người Đông Hà cũng như các đô thị khác nay mai dù có công nghiệp hoá tới mức nào thì cũng tính chuyện đừng công nghiệp hoá... cái bánh ướt, bánh tráng. Bởi vì trong hàng cao lương của nền văn minh lúa nước ngoài bánh ít, bánh giầy, bánh gai, bánh trôi, xôi vò làm từ gạo nếp thì bánh ướt là đại diện tiêu biểu của làng gạo tẻ. Bánh ướt ngày nay phát triển đa dạng: bánh ướt nhân tôm, thịt heo ba chỉ; bánh tráng cuốn nem... và có mặt gần như hầu khắp các buổi tiệc tùng hay bữa ăn thay cơm hàng ngày. 3. 3. 3. Nghề nấu rượu Không có gì bí hiểm đối với qui trình sản xuất rượu thủ công. Qui trình nấu rượu đơn giản và có thể tóm tắt như sau: Từ gạo người ta đem ngâm khoảng giờ đồng hồ cho mềm, vút, rồi vớt ra thúng cho ráo, đưa vào chảo nấu chín thành cơm, cơm được xới ra, rải đều trên nong chờ nguội thì cho men vào trộn đều, sau đó đổ vào lu hoặc thạp, phủ kín miệng lu lại ủ. ủ chừng 48 giờ đồng hồ sau, chan nước lã vào ủ thêm 48 giờ đồng hồ nữa cho men tiếp tục phân huỷ hết cơm hoà tan trong nước, bã cơm nổi phình lên trên mặt nước, bấy giờ đã có thể cho vào nồi chưng cất ra rượu. Dụng cụ nấu rượu trước hết phải kể đến nồi nấu. Nồi sẽ là nồi ba hoặc nồi bảy bằng đồng, trên miệng gắn với chiếc lao bằng gỗ. Lao là bộ phận làm lạnh, một nửa phần lao bên trên chứa nước lạnh (thường xuyên thay trong quá trình chưng cất), hơi rượu từ nồi bốc lên đến nơi gặp lạnh, tụ lại thành rượu chảy ra theo vòi từng giọt, từng giọt rất chậm. Để mỗi ngày có một nồi rượu nấu ra, người ta phải gối đầu 4 - 5 mẻ rượu, tuỳ theo thời tiết. Từ xưa đến nay, các lò rượu ở Quảng Trị nói chung, Đông Hà nói riêng không tự mình chế biến ra men (nghĩa là không có men riêng), ngoại trừ nguyên liệu tại chỗ tạo ra sản phẩm có tính đặc trưng. Chưng cất theo lối thủ công thường không được nhiều, mỗi mẻ từ 8 - 16 loong gạo tương đương với 2 - 4 kg vì phụ thuộc vào nồi nấu. Cứ 2 kg gạo cất được 1 lít, nồng độ rượu khá cao, ổn định từ 40 - 50 độ. Người nấu rượu thật sự tôn trọng sản phẩm truyền thống của nghề, không ai vì hám lời mà hạ nồng độ rượu hoặc tăng cao hơn độ chuẩn đặc trưng của mình. Vì vậy khi hạch toán gồm chi phí cho gạo, men, chất đốt thì tiền lãi chỉ chiếm 1/5. Hàng năm nghề rượu chỉ trông vào tháng Chạp, ngày thường nghề rượu chỉ lãi ở bả hèm phục vụ cho việc chăn nuôi. 3. 3. 4. Nghề giá đỗ Đây là nghề truyền thống tiêu biểu duy trì phát triển tốt đến ngày nay tại phường Đông Thanh. Nguyên liệu chính để làm giá đỗ là đậu xanh nguyên hột. Đậu cần lựa kỹ, bỏ hột lép sâu; đậu loại một sẽ đúc ra loại giá mập mạp, đắt tiền, đậu loại hai loại ba sẽ đúc ra loại giá thứ phẩm. Bí quyết của nghề đỗ giá đậu xanh là ở khâu theo dõi nhiệt độ nóng lạnh thích hợp, tuỳ theo mùa trong quá trình ủ mầm, mùa nóng khác mùa lạnh. Tuỳ mẻ giá làm nhiều hay ít, người ta cho đậu xanh vào thùng, hoặc thau chậu chà cho đậu mỏng vỏ, ngâm trong nước lạnh từ sáng đến trưa để đậu nở ra có hơi nức vỏ, sau đó đem ủ. Vài thùng trấu đốt lấy tro, rây kỹ. Một thùng thiếc đục lỗ thưa dưới đáy thùng. Lấy một tấm vĩ lót dưới đáy thùng xong, rắc lót một lớp tro chừng một tấc, ém tro cho bằng mặt, rải lên một lớp đậu xanh và rắc tro, rắc đậu lên cho đến miệng thùng, trên cùng rắc một lớp tro (có nơi phủ lớp lá chuối khô hoặc rơm), đậy lên tấm sàng. Xong, rưới nước cho đều. Mỗi sáng rưới nước một lần, trưa đem thùng đậu để ở chỗ thoáng mát; đêm đến, để thùng đậu nơi có hơi sương càng tốt. Tưới nước giá phải bằng nước mưa, nước giếng trong hoặc nước sông. Nếu tưới bằng nước máy có chất khử trùng, cây giá dễ bị hỏng. Chừng ba ngày đêm giở ra thấy giá lên mầm mập mạp, trắng tốt đem ra rửa sạch tro, đãi bỏ vỏ đậu là xong quy trình một mẻ giá đậu xanh. Nghề làm giá đỗ đòi hỏi phải tích luỹ kinh nghiệm lâu năm, càng cẩn thận bao nhiêu càng tránh được rủi ro, nhất là phải nhạy cảm với thời tiết. Nhiều làng ở Đông Hà như làng Thanh Lương có trên 30 hộ làm nghề đỗ giá đậu xanh, ngày một phát triển về quy mô cũng như cải tiến dụng cụ, công nghệ nên thu nhập hàng ngày của mỗi hộ rất ổn định, nhiều hộ có thu nhập cao vì có nhiều người làm, một ngày cho ra vài chục mẻ. 3. 3. 5. Một số nghề chế biến nông sản khác Cũng từ các loại nông sản bình thường khác, qua chế biến những người bán hàng xén, hàng rong cho người tiêu thụ bao nhiêu là sản phẩm không thể thiếu được trong sinh hoạt hàng ngày. Từ hạt đậu nành người ta chế biến ra đậu phụ, nước đậu. Từ củ sắn, người làm ra bột lọc rồi bánh bột lọc nhân đậu xanh, nhân tôm thịt. Từ hạt gạo tẻ, làm ra tràng bánh đúc, bánh giò, bánh nậm; từ hạt nếp làm ra bánh ít ngọt, mặn, bánh tét, bánh chưng, xôi bắp tươi, xôi đậu đen, xôi đậu phộng, xôi đậu xanh, xôi gấc, xôi vò. Từ qủa bắp, hạt đậu, hạt sen, khoai môn, hàng xén cung cấp ra chợ nào chè bắp, chè đậu đen, chè đậu trắng, chè sen, chè khoai môn, chưa kể những mặt hàng cao cấp như nem, chả... Chỉ thống kê ra vậy cũng đủ thấy từ nông sản qua chế biến dù là thủ công, đã cung cấp cho thị trường bao nhiêu là hàng hoá, tạo ra bao nhiêu là công ăn việc làm và tạo ra diện mạo, hoạt động của nhiều chợ làng, chợ phường, chợ trung tâm thị xã. 4. 4. Nghề buôn bán Tìm hiểu hoạt động buôn bán và hệ thống các chợ làng thuộc địa bàn thị xã Đông Hà từ lịch sử ra đời, quy mô, hình thức hoạt động đến các mối quan hệ kinh tế... sẽ góp một phần không nhỏ vào sự hiểu biết lịch sử, văn hoá một vùng đất. Chợ làng không chỉ đơn thuần là nơi trao đổi hàng hoá mang tính tự cung tự cấp trong đời sống của hầu hết các làng xã nông nghiệp xưa với tư cách là thị trường kinh tế mà còn là nơi giao lưu, trao đổi, hội tụ, kết tinh những giá trị văn hoá của cộng đồng làng/ liên làng. Trong quá trình phát triển, khi hội đủ hai thành tố trên cùng với sự hội tụ của các luồng thương mại thì chợ làng sẽ vươn lên để trở thành trung tâm thương mại của khu vực. Trước thời Pháp thuộc, vùng Đông Hà có 3 ngôi chợ làng song song tồn tại. Đó là chợ Lai ở làng Lai Phước (nay thuộc phường Đông Lương); chợ Hôm ở làng Lập Thạch (nay thuộc phường Đông Lễ) và chợ xép Tây Trì ở làng Tây Trì (nay thuộc phường I). Cả ba ngôi chợ vừa nêu, từng sầm uất, có quy mô và sức lan toả như là những ngôi chợ liên làng. Nhưng trong quá trình phát triển, chợ xép Tây Trì đã vượt lên để trở thành trung tâm trao đổi hàng hoá cả một vùng và là chợ Đông Hà hiện nay. Chợ Đông Hà vốn là ngôi chợ xép của làng Tây Trì. Từ đầu thập niên 20 của thế kỷ XX, khi người Pháp tiến hành xây dựng các công trình hạ tầng như: cầu đường sắt, đường bộ bắc qua sông Hiếu, lập nhà ga xe lửa, nhà bưu điện... thì toàn bộ khu vực cư dân nằm ở bờ nam Sông Hiếu, trên một phần đất đai của làng Tây Trì được gọi chung là khu vực Đông Hà. Vì thế, chợ xép Tây Trì chuyển thành chợ Đông Hà. Quy mô của chợ Tây Trì bấy giờ nhỏ bé, khuôn viên không bằng 1/5 mặt bằng ngôi chợ cũ trước lúc cải tạo xây dựng lại vào năm 1991. Lại nữa, là chợ làng, nên giữa chợ có đình chợ. Đó là ngôi nhà chuông vuông bốn mái, mỗi cạnh không quá 6m, lợp bằng tranh. Đình chợ là nơi giành riêng cho những người bán hàng xáo, bán từng thúng gạo lẻ tránh lúc trời mưa. Bao quanh đình chợ có bốn dãy sạp hàng còn là tranh tre nứa lá, tấm cót. Chợ chỉ đông buổi sáng và vì nhóm trên đất làng Tây Trì nên do làng Tây Trì cử người đứng ra thu thuế, trực tiếp quản lý chợ. Tiền thu được nộp cho chính quyền sở tại một phần, phần sung quỹ cho làng. Hàng năm vào ngày 25 tháng Chạp, làng đứng ra tổ chức cúng chợ tại đình chợ và tế đàn Âm hồn (1). Như vậy so với chợ Thuận xưa, chợ Sải hoặc chợ Tỉnh (chợ thị xã Quảng Trị cũ), chợ Sòng - nơi có nhiều tiệm buôn người Minh Hương hoặc chợ Phiên Cam Lộ - một trong những ngôi chợ lớn vào hàng nhất, nhì Trung bộ nằm trên trục đường 9 thì chợ Đông Hà chỉ là chợ xép, chưa có lợi thế gì để so sánh. Thực ra, đã từ lâu, chợ Đông Hà có một lợi thế là ăn theo chợ Phiên Cam Lộ: "Hẹn chàng một tháng sáu phiên (vào các ngày 3, 13, 23 và 8, 18, 28)/ Không đi thì lỗi lời nguyền với anh". Bấy giờ luồng thương nhân theo những con đò dọc trên sông Hiếu, Hói Sòng lên chợ Phiên Cam Lộ có dịp ghé vào chợ Đông Hà mua bán, trao đổi hàng hoá. Hàng trăm chiếc thuyền từ Huế ra, từ Ba Đồn vào, từ Cửa Việt, Cửa Tùng đến... tất cả dồn vào con sông Hiếu, lên về đều ghé qua chợ Đông Hà, vì chợ nằm sát bến đò. Đò dọc xưa là các đội thuyền chèo, sau này thay thế bằng thuyền máy. Luồng từ Huế ra, Đồng Hới vào với hàng hoá đa dạng, hàng sỉ, lẻ đủ chủng loại cung cấp cho thị trường, từng phiên chợ như vải vóc, hàng tạp hóa, nhiên liệu... Luồng từ Cửa Việt lên chủ yếu cung cấp thuỷ sản từ các làng Hà Tây, Tường Vân, chợ Hôm, Mai Xá, Dương Xuân (Bắc Phước)...; trong khi chợ Thuận, Nam Đông, chợ Sòng đưa nông sản như rau dưa, đậu mè, sắn khoai về. Đặc biệt chợ Phiên có nguồn lâm đặc sản phong phú do người Thượng và người Lào đưa xuống. Sau khi tập kết ở chợ Phiên, thương nhân đưa xuống Đông Hà, vào Huế, ra Ba Đồn. Có thể coi đây là con đường hương liệu, lâm sản, khoáng sản, kim loại, café, thóc gạo, sản phẩm công nghiệp, vũ khí... trao đổi hai chiều. Ngược lại chợ Đông Hà cung cấp cho các chợ trong khu vực và dân cư vùng ven những mặt hàng tạp hoá khác nhau như vải xô, len, giày dép, đá lửa, dầu hoả... Song, phải kể từ khi người Pháp mở đường sắt Bắc - Nam, và đặc biệt là khai thông đường 9 (1904) thì hai điểm nút giao thông Bắc - Nam sang Lào xuống Cửa Việt đã thu hút nhiều tư sản thực dân cũng như những tư thương người Hoa, người Việt vào đất Đông Hà kinh doanh buôn bán. Bấy giờ chợ Đông Hà mới thực sự có những điều kiện cần và đủ để phát triển. Rõ ràng là sự phát triển đường sá và phương tiện giao thông (khác thời đò dọc) ngày càng cao, tất yếu tạo ra những điều kiện thuận lợi, giúp cho chợ Đông Hà mở rộng quan hệ trao đổi kinh tế giữa các vùng miền; lưu lượng người đến mua bán ở chợ Đông Hà tấp nập hơn, luồng thương mại đa chiều hơn. Việc pháp triển giao thông đã đẩy mạnh quá trình sản xuất và giao lưu hàng hoá. ở thị trấn Đông Hà, hoạt động giao thương kinh tế, hàng hoá nhộn nhịp; trong đó có chủ hãng xe Malpuech kinh doanh vận tải. Bên cạnh các nhà kinh doanh tư sản Pháp, những thương nhân người Việt làm ăn ở Đông Hà giàu có phất lên nhập quốc tịch Pháp, kinh doanh vận tải và mở các hiệu buôn. Đáng kể như: "Tây Thiều" - người đầu tiên sắm xe đò ngày một chuyến chạy tuyến Đông Hà - Huế với lượng khách khoảng 15 - 20 người và có tiệm bán nhang đèn, dầu hoả...; Trần Hữu Dung có 4 xe tải độc quyền chạy đường Lào, chuyên buôn bán trâu bò và gỗ; Trần Triệu Thành xây nhà lầu ba tầng, xây gần 30 ngôi nhà quanh chợ cho thuê mở tiệm café, tiệm ăn... Đông Hà bấy giờ còn có 4 tiệm thuốc Bắc đều của người Hoa (phố chú Xệng, chú Chiên, chú Quang, chú Du). Thuốc Tây có cửa hàng ông Hiểu (người Huế). Tiệm vàng có 3 tiệm ông Thái, ông Yên, ông Trâm. Vật liệu xây dựng có đại lý ông Nguyễn Duy Khái, bà Hà chuyên kinh doanh sắt, thép, xi măng, đinh lề. Ngoài ra, bà Hà còn có sạp vải lớn ở chợ. Các lớp dân cư gốc rễ Đông Hà như Tây Trì (Phường I), Điếu Ngao (Phường II), Đông Hà (Phường III)... bám chặt mấy đám ruộng nhỏ hẹp ven đồi, rồi làm xáo, làm nghề buôn thúng bán mẹt hội nhập vào chợ thị trấn nhưng vai trò không đáng kể. Ví như: ông V.S (nhà văn Lê Tri Kỷ dấu tên) được coi là thương gia giàu có cũng chỉ có “một ngôi nhà gạch tối om đầu cầu xi măng, vài cái tủ bên trong xếp 10 xấp vải, ít hàng tạp hoá và các con nợ tận các làng rất xa mà ông nhớ cả những ngày kỵ giỗ để giữ lại đúng lúc vài thứ hàng hiếm như hương vòng, mộc nhĩ, miến tàu... để giữ khách hàng”. Chợ Đông Hà cho đến cách mạng tháng Tám năm 1945 cứ thế mà phát triển và đã tương đối bề thế. Chín năm kháng chiến chống Pháp, chợ có đôi lần tản cư, song không vì thế mà không xây dựng, mở mang ra. Bốn phía chợ đã có nhà mái bằng, nhà một lầu do vợ con của các công chức làm việc cho Pháp mở đại bài, bán bách hoá nhập từ Pháp qua, thu mua nông sản để bán lẻ cho dân thị thành, bán sỉ cho quân lính Pháp. Thời chống Mỹ, chợ Đông Hà nằm trong quân trấn thuộc quyền kiểm soát của Mỹ nguỵ. ở trong cái lồng chảo pháo kích và kìm kẹp này nhiều năm, chợ Đông Hà không thể nào mở mang ra được như chợ tỉnh Quảng Trị. Thế nhưng phong trào đấu tranh đình công, bãi thị chống lại chế độ Mỹ - Diệm đòi từ do, dân chủ, độc lập của chị em tiểu thương chợ Đông Hà thường xuyên diễn ra. Cũng từ đây, nhiều hàng hoá thiết yếu như lương thực, thực phẩm, vải vóc, thuốc men; nhiều nhu yếu phẩm khác đã được chị em mua sắm, tiếp tế cho du kích, bộ đội giải phóng tại các chiến trường. Năm 1972, toàn thị xã Đông Hà bị tàn phá bởi bom đạn, chợ Đông Hà bị đổ nát. Sau ngày giải phóng (28/4/1972), "chợ Đông Hà bày bán rặt những mặt hàng không chợ nào có trong cả nước. Dây điện màu rút ra từ ruột xác xe tăng và máy bay trực thăng, đinh nhỏ hình mũi tên từ pháo, những viên bi màu xanh huyền là loại bi lý tưởng dùng cho xe đạp, và những nông cụ, những dao rựa gia dụng được rèn bằng những phế liệu chiến tranh còn mới. Chỉ ngồn ngộn những mặt hàng kiểu ấy, đống này đụn kia, trông giống như cuộc triển lãm chiến thắng hơn là một cái chợ". (Hoàng Phủ Ngọc Tường). Ngày 6/6/1973, sau hơn một tháng thi công, công ty xây dựng số 8 đã xây xong một đình chợ lớn, 8 đình nhỏ và một số kiốt kịp đưa chợ Đông Hà vào khánh thành nhân dịp kỷ niệm 4 năm ngày thành lập Chính phủ Cách Mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Trải qua gần 20 năm hoạt động, trong đó có thời nhập tỉnh Bình Trị Thiên, chợ Đông Hà không xây dựng gì thêm, nhưng thị xã Đông Hà ở vào thời kỳ này là cả một chợ trời sôi động. Hàng hoá muôn mặt, nhiều luồng hàng từ trong Nam ra, hàng từ Lào xuống, muôn hình vạn trạng... và đó chính là thế mạnh, là mặt năng động vô tiền khoáng hậu của cái chợ Đông Hà - nơi ngã 3 đường 9 thời bao cấp. Chợ Đông Hà có cơ hội cất cánh từ sau năm 1989, khi tỉnh Quảng Trị được tái lập, Đông Hà được chọn làm thị xã tỉnh lỵ. Xuất phát từ một tầm nhìn chiến lược về việc xây dựng chợ Đông Hà không những thành một trung tâm kinh tế thương mại lớn của tỉnh Quảng Trị mà còn là của cả khu vực, nên ngày 13/7/1991, chợ mới Đông Hà chính thức khởi công theo đề án của KTS Nguyễn Tiến Thuận. Sau 4 năm thi công, ngày 26/9/1995, chợ Đông Hà đã được khánh thành và đưa vào sử dụng với 3 đơn nguyên (diện tích sàn: 14.300m2, sân vườn 1.500m2; gian chợ hàng tươi sống: 2.250m2, với 1.120 lô, mỗi lô 4m2). Từ năm 1995 đến năm 2005, chợ Đông Hà tiếp tục hoàn thiện giai đoạn 2 và 3; trở thành một trong những trung tâm thương mại lớn của khu vực. Hàng năm, doanh thu lên tới vài tỷ đồng. Và tới đây, chắc chắn rằng chợ Đông Hà sẽ sớm trở thành một siêu thị liên á ở ngã ba đường 9. Bên cạnh chợ Đông Hà thì chợ Hôm (Lập Thạch) và chợ Lai Phước đều nằm ở vị trí cô lập, khuất nẻo nên chỉ đóng vai trò chức năng ngôi chợ làng. Hiện nay, xu hướng người dân có nhu cầu thoả mãn ngày càng cao về mua sắm, họ đã chủ động tìm đến chợ trung tâm thì chợ làng đã mất dần sức thu hút người mua bán đến chợ và không phát huy được vai trò quy tụ, phân phối các nguồn hàng hoá mang tính liên xã. Xu hướng đó đang trực tiếp ảnh hưởng đến sự tồn tại của các chợ làng (ví như: chợ Hôm (Lập Thạch) hiện đang "tầm gửi" bên bến đò Lập Thạch - Trùng Yên; chợ Lai đang bị chợ Đông Lương trùm lên teo tóp đi một cách đáng kể). Hiện tại, trên địa bàn thị xã Đông Hà còn có 11 chợ khu vực thuộc các phường như chợ Hàm Nghi, chợ Lê Lợi (phường V), chợ phường III, chợ phường IV, chợ Trung Chỉ, chợ 1/5 (phường Đông Lương) thay thế cho các chợ làng đang tàn rụi đi. Tuy rằng doanh số và doanh thu các chợ phường là không lớn, nhưng nó là những chợ đầu mối đóng vai trò chức năng tự phân phối thực phẩm, hàng tươi sống, ổn định cho dân cư trong phường (vai trò như chợ làng). Tuy nhiên, việc quy hoạch, phát triển hệ thống chợ các phường để chúng trở thành các trung tâm thương mại dịch vụ trên địa bàn thị xã từ trước đến nay cũng có những vấn đề cần lưu ý. Ví dụ: Việc chợ phường V trước đây nhóm họp ở trường Hàm Nghi (đường Hàm Nghi) và đường Nguyễn Chí Thanh đều không thành; nay nhờ nhóm họp tại vị trí mới mà tập hợp được 172 hộ kinh doanh cố định, ăn theo còn có 100 hộ tự tiêu tự sản. Hiện chợ phường V đang là chợ lớn thứ nhì ở thị xã (sau chợ trung tâm Đông Hà). Thứ đến, các chợ phường III, IV, Đông Lương, Đông Lễ, chợ Lê Lợi, đang là những ngôi chợ làm bệ phóng cho chợ trung tâm thị xã phát triển theo chiều hướng mở.
|